Trường Sa Hoàng Sa trong trái tim ta: Thơ tình người lính biển

By Sinh ở cuối dòng sông

Trường Sa Hoàng Sa trong trái tim ta : Thơ tình người lính biển

Trần Đăng Khoa

THƠ TÌNH NGƯỜI LÍNH BIỂN

Anh ra khơi

Mây treo ngang trời những cánh buồm trắng

Phút chia tay anh dạo trên bến cảng

Biển một bên và em một bên

 

Biển ồn ào em lại dịu êm

Em vừa nói câu chi rồi mỉm cười lặng lẽ

Anh như con tàu lắng sóng từ hai phía

Biển một bên và em một bên…

 

Ngày mai ngày mai khi thành phố lên đèn

Tàu anh buông neo dưới chùm sao xa lắc

Thăm thẳm nước trời nhưng anh không cô độc

Biển một bên và em một bên…

 

Đất nước gian nan chưa bao giờ bình yên

Bão táp chưa ngưng trong những vành tang trắng

Anh đứng gác. Trời khuya. Đảo vắng

Biển một bên và em một bên…

 

Vòm trời kia có thể sẽ không em

Không biển nữa. Chỉ mình anh với cỏ

Cho dù thế thì anh vẫn nhớ

Biển một bên và em một bên…

alt

More...

Trường Sa Hoàng Sa trong trái tim ta: Hào phóng thềm lục địa

By Sinh ở cuối dòng sông

alt

 Phía trước là làng đảo Đá Nam . Ảnh:Lê Bá Dương

Nguyễn Thanh Mừng

 HÀO PHÓNG THỀM LỤC ĐỊA

Chúng tôi đã vùa rất nhiều hình ảnh sang trọng của đại dương trút vào vần điệu xôm trò của những bữa tiệc thơ

Nào yến sào ngọc trai nào đồi mồi san hô nào cánh buồm tung mây ra khơi vào lộng

Tuy nhiên hoa thả xuống nghĩa trang trong lòng biển Đông

Và câu chữ dâng lên linh hồn các anh- những người lính biệt tăm giữa sóng cao gió rộng

Dường như hãy còn quá mỏng

Dù điều ấy có thể các anh không quan trọng

 

Giữa trập trùng tình thế nguy nan các anh vật lộn cùng bão tố đại dương

Sau  dòng điện nghẹn ngào về bộ chỉ huy gửi lời chào vĩnh biệt

Chúng tôi vẫn trùm chăn đọc sách

Chúng tôi vẫn mở vi tính làm thơ

Thả vào diễn đàn sấm rung chớp giật

Những siêu thực những tượng trưng những hậu hiện đại những tân hình thức

Bên cạnh việc đem tên những hành tinh lộng lẫy trên dải thiên hà ra mà lăng xê nhau

Thậm chí ai đó còn mang những bộ phận nhạy cảm trên cơ thể con người ra mà phỉ báng nhau

Dù điều ấy các anh không hề biết

 

Những tiện nghi những ngôn từ những điều kiện sinh tồn tối thiểu của đời người

Các anh cứ giản lược hồn nhiên

Quen việc căng thân mình đầu sóng gió

Quen  cơn bão đánh tên bằng con số

Tít một xóm làng còn có mẹ cha

Những tóc bạc lặng thầm mỗi đêm giao thừa mỗi ngày kỵ giỗ 

Người vợ trên đất liền của anh phải biết cách làm thế nào để không hoá đá

Đứa con trên đất liền của anh phải học cách chống chỏi với sự trống trải của căn nhà thiếu đàn ông trước khi học chữ

Người yêu trên đất liền của anh bần thần trước chiếc nhẫn đính hôn

Thửa ruộng xưa đất liền

Ngõ  phố xưa đất liền

Và bao nhiêu thứ

Phải biết giấu nỗi đợi trông ở góc bờ nào

 

Giữa lúc các anh thương nhớ cồn cào

Thèm một bát canh thiếu phụ

Thèm những tiếng trẻ bi bô bịt mắt bắt dê

Thèm nắm bàn tay người mình yêu tung tẩy dưới những giọt mưa

Chúng tôi ung dung tìm cách vặt lông bóng ngựa thời gian trong quán nhậu

Chúng tôi phức tạp hoá một khái niệm bình thường như kiểu dát kim cương cho cào cào châu chấu

Hoặc lột trần những thần tượng ra cợt nhả tung hê vết sẹo nốt ruồi

 

Cái cách các anh đón bão thế nào

Sẵn sàng trước tàu chìm giàn sập

Quấn quốc kỳ vào người  vĩnh quyết

Kết chùm phao hoặc nhường can nhựa cho nhau trong lúc hết đợt sóng này đến đợt sóng kia quăng ngang quật dọc

Chúng tôi khó mà học được

Khi trời nước điên cuồng

Mọi trường phái cao siêu

Cũng thành bất lực

Mặt biển thiên đường hôm qua

Hôm nay thành địa ngục

 

Ngày nào các anh đã chọn lựa cho mình một tuổi trẻ hiên ngang trước thềm lục địa lênh đênh

Ngày nào các anh đã ăn nhín nhịn thèm giành nước ngọt và sữa đường cho những nạn nhân bốn phương trời các anh vừa cứu sống

Ngày nào các anh ươm bầu bí trong mây trồng rau trên sóng

Chúng tôi rồng rắn trước thiên đình

Dựng một khát khao gây men hùng hồn cho đàn voi tư tưởng

Chui qua lỗ kim trại sáng tác Đà Lạt Đại Lải Nha Trang Tam Đảo Vũng Tàu

Thậm chí đôi lúc cao hứng  còn nhân danh đại diện cho  dân tộc và nhân loại thề độc lúc lồm cồm trong  căn phòng điều hoà rượu bia ngất ngưởng

Những giá trị trường tồn của muôn đời  sẽ được  cất cánh bi hùng  trong trường ca và tiểu thuyết trường thiên

Nếu không trao cho chúng tôi giải Nobel

Viện Hàn lâm Thuỵ Điển đích thị đồ mù loà

Kẻ nảy mực cầm cân hoá quân thối tha vất vưởng

 

Những vòng nguyệt quế ơi xin người hãy anh minh

Tìm địa chỉ những tâm hồn  hào phóng

Dẫu các anh chỉ còn là gió sóng

 

Chúng tôi đang hướng mặt về phía các anh

Đặng tìm ra một khoan dung tỉnh thức

Nghe những cơn bão điên cuồng vẫn khôn nguôi phía trước

Những dự án nhập nhằng  ẩn danh vì dân vì nước

Tiếng đồng tiền chảy vô két bọn maphia

Thật xúc phạm

Nếu đem so với tiếng sột soạt

Của đồng lương phong phanh thời lạm phát

Của đau đớn đồng tiền tử tuất

Bìu ríu cõi dương trần

 

Chúng tôi đã đi bao nhiêu ngày đàng đọc bao nhiêu pho sách để kiên trì thức cùng  trang viết

Nhưng khó mà học được cách bền gan của người thân các anh

Có một người cha từ miền Bắc đi dọc về Nam ghé những bến cảng mà con mình từng trải qua ngắn ngủi đời lính hải quân

Có một người vợ có một đứa con vẫn quen ngồi viết thư và quen ra ngõ chờ thư

Có một người yêu vẫn đêm đêm lau chùi mặt nhẫn

Cầu ước nụ hôn xưa

Như chiếc mỏ neo buông vào lòng cảng

Có thể nào nguội tắt niềm hy vọng

Họ thắp đến cạn cùng ngọn lửa tin yêu

Rằng các anh lưu lạc ở một ghềnh thác An Tiêm hay Robinson nào đó

Sẽ đột ngột trở về dù ba trăm sáu lăm ngày ba nghìn sáu trăm năm chục ngày  hoặc lâu hơn  nữa

 

Sẽ trở về với con thuyền dưa đỏ

Bày lên mâm cỗ Nguyên đán những căn nhà giàn DK1 đoàn M 71 đồng đội các anh trước khi về với mẹ cha về với vợ con

Tiếng reo dội suốt trời cao biển rộng

Lúc ấy như thực thụ những chiến binh   chúng tôi đã đi dọc Trường Sa Hoàng Sa dọc những đảo nổi đảo chìm dọc theo nhiều biến động

Chúng tôi không đẽo gọt ký tự mỹ miều của những kẻ trùm chăn

Chúng tôi không ù oà ảo thuật với mớ triết luận cũ rích lăng nhăng 

Không cưỡng bức thiên nhiên bằng ngôn từ hoá chất

Chúng tôi vừa giở lịch sử nước nhà vừa bước theo dấu chân của binh phu Bãi Cát Vàng đôi chiếu đòn  tre đi khai thác tài nguyên mấy trăm năm trước

Dựng  câu thơ thành  cột mốc chủ quyền

Rằng cha ông vươn mình ra biển lớn

Chểnh mảng nào cũng đắc tội với tổ tiên

Những đọi máu truyền đời qua bài văn tế sống

Hưng vong những vương triều vận mệnh chốn tiền duyên

 

Chúng tôi vùa rất nhiều muối của đại dương làm gia vị cho những bữa tiệc thơ

Dù một nghìn câu có thể chín trăm chín chín rưỡi câu hãy còn nhạt thếch

Dự báo cuồng phong vẫn không ngừng

Nghiệp văn chương khắc nghiệt này không cho phép chúng tôi khôn ngoan ẩn nấp theo cách người mưu sinh

Đem băng hoại đến từng trang viết

Đồng đội các anh sẽ không khó khăn nhiều khi vớt chúng tôi lên và lai dắt phương tiện hành nghề của chúng tôi như lai dắt những nạn nhân

Rồi nhường cho sữa đường nước ngọt

Nhường chỗ ngồi tốt nhất trong khoang tàu nơi câu lạc bộ sĩ quan

Khi cập bờ chúng tôi sẽ khóc

Chúng tôi không mất tăm vào lòng biển nhưng mất tăm trước định mệnh văn đàn

Dù chúng tôi tiếp tục hò hét tiếp tục lập là lập loè  tiếp tục được tài trợ rong ruổi vênh vang

Tiếp tục vỗ ngực xưng tên nhân danh cát bụi bùn lầy trong khi tìm mọi cách chui vào lầu son gác tía

Tiếp tục tự lìa xa chân trời  trượng  nghĩa

 

Có thể chúng tôi canh cánh món nợ vô hình trong sa mạc lãng quên

Dù các anh không hề đếm xỉa

 

Hào phóng thềm lục địa

 

Lữ đoàn 171 Vũng Tàu- Bộ Tư lệnh Hải quân tại TP. Hồ Chí Minh- Hà Nội 10-21/6/2008

 

 

 

 

 

More...

Trường Sa Hoàng Sa trong trái tim ta: Đảo xa vẫn một tiếng làng!

By Sinh ở cuối dòng sông

 

            Đảo xa vẫn một tiếng Làng !

                                                                                   Bài và ảnh: LÊ BÁ DƯƠNG

 L àng ! Tại sao không? khi cũng với những nhà theo đúng nghĩa của cái nhà Việt quần cư với nhau trên mỗi hòn đảo Việt. Và giữa bốn bề sóng nước khơi xa trong mỗi cái nhà Việt với đủ những thế hệ con cháu  trẻ già không chỉ làm nghiêng cả đêm với những  ầu ơ đưa giấc cùng những ríu rít tiếng trẻ  nô đùa dưới tán cây phong ba. Và đến cả những tiếng ó o ..của gã gà trống kiến  báo gọi mặt trời buổi sáng tiếng tục tác lảnh lót  từ chái nhà đảo của “chị” mái mơ chanh choác mỗi ngày rồi tiếng chú ỉn khụt khịt dịch chuyển dọc bãi bờ san hô tiếng meo meo gừ gừ nũng nịnh  của “ả”  mướp khi vào bữa…vốn là thứ âm thanh bình dị muôn thủa sau lũy tre làng quê Việt trong bờ…tất tật đều ấm đầy trong cái không gian làng  Việt quần cư trên tuyến đảo Trường Sa .

Làng! Đó là  một phần đơn nhỏ trong cái hình hài tổ quốc thiêng liêng để  không chỉ dân làng đảo mà cả những công dân  thuần Việt như tôi đều có thể “Nghe sờ” bằng tất cả sự mẫn cảm của các khứu giác trên chính cơ thể của mình.

Làng! Nhớ lại kỷ niệm có được từ bến cảng Trường Sa những ngày cận tết Đinh Hợi – 2007. Vốn quen với phong cách tác nghiệp trên tàu hải quân “đi đảo” sau khi vứt chỏn lỏn chiếc ba lô “con cóc” kỷ niệm hồi lính giải phóng vào góc phòng ngủ giành riêng cho cánh nhà báo cùng “cưỡi sóng” ra đảo lần này   tôi vọt nhanh lên boong đã  nghe tiếng ai đó gần như gào lên:- Giời ơi   đến lùa  mấy con lợn vào chuồng “nhà tàu” cũng ậm à ậm ạch không xong. Mấy ngày sóng ngày gió đưa được lợn ra đến làng đảo mà thành lợn chết mất tết của “nó”  thì các cậu rửa tai ra mà nghe cả làng nó rủa cho mất …tết nghe chửa.

 Trời ạ vẫn là một tiếng Làng mà tôi nghe được trong những lần cùng các công dân Trường Sa cưỡi sóng  ra thăm chuyển  hàng tết ra tuyến làng đảo chắn sóng Trường Sa. Vậy nhưng cái tiếng làng nghe được từ ông đại tá gốc nông dân vùng chiêm trũng Nguyễn Văn Liên nghe có “vị” rất làng.

Chờ khi nhìn đàn lợn được các thanh niên trai tráng đưa gọn gàng vào cái chuồng được quây bằng lưới B40 và tự tay buộc thêm mấy tấm lá dừa trên “mái” chuồng… ông đại tá quay sang tôi giọng mềm và lành như …đất: Ngày tết ngoài bánh mứt đậu nếp… tuỳ  “làng” lớn hay nhỏ đông dân  hay thưa người… mỗi “làng” đều được huyện “cấp” một hay hai con lợn mà phải là lợn sống thực sự thì tết mới ra tết. Nheo mắt dõi về phía biển khơi ông đại tá hào hởi mô tả nguyên cái không gian tết nhất làng đảo rằng cũng như cái làng quê trong bờ những đêm hai chín ba mươi tết  âm lịch không thể thiếu được tiếng “gà kêu lợn éc” cái âm thanh tết nhất đã thấm trong thành vách… tai đó  càng không thể thiếu được ở những làng đảo cách bến xa bờ  hun hút hàng trăm hải lý. Nói nhà báo đừng cho là phóng đại là quan trọng hoá vấn đề. Nhưng đúng là  dân đảo ăn tết không chỉ bằng miệng bằng mắt mà còn ăn tết bằngcả … tai. Thực tế với sự quan tâm đầu tư của  chính phủ của đồng bào cả nước mức sống của dân đảo Trường sa tuy chưa thể dư giả tươi mới như trong bờ song  bát cơm miếng thịt cũng đắp đủ quanh năm. Nhưng là đó thuần là thịt đóng hộp ướp muối cắm cúi ăn cho đủ chất… Duy chỉ dịp tết nguyên đán hàng năm làng đảo mới có con lợn sống để đêm hai chín ba mươi  có cơ hội để được nghe được nhấm nháp được háo hức cái vị tết cổ truyền của làng quê Việt Nam qua cái  tiếng eng éc cứ như vọng  từ sau luỹ tre làng. Nói dại miệng  ngộ nhỡ làng đảo nào tết đó vớ phải  con lợn say sóng  đến “cấm khẩu”  hoặc tồi tệ hơn là …chết   coi như tết năm đó đó làng mất… tết

Làng !  Mùa biển  những ngày cận tết là mùa giông gió. Sau 3 ngày 2 đêm chao lắc nhồi lên hụp xuống giữa những núi sóng lừng lững… bất chợt một sáng mai chấm đảo đầu tiên trong nhóm đảo phía Bắc Trường Sa - đảo Song Tử Tây đã hiện ra và lớn dần trước mũi tàu. Cùng với 3 hồi còi hụ chào đảo và tiếng thiếu tá thuyền trưởng Lê Hải Sơn  phát lệnh thả neo là tiếng ai đó hét lên sung sướng: Làng đảo. Và chỉ mới nghe  một tiếng Làng  thôi   cánh lính đang trong tư thế lử khử vì 3 ngày đêm  nếm trải cuộc hải trình chao lắc như sàng gạo bỗng tỉnh như sáo ùa lên boong mà huơ tay cẫng chân giữa nao nức tiếng reo chào đảo.

Hướng cái nhìn về phía háo hức của những người lính trẻ đại tá Nguyễn Văn Liên thủng thỉnh nói với tôi:- Mỗi lần tàu ra đến  đảo mấy cậu lính trên  tàu vui một trong bờ các dân đảo còn vui  gấp mười. Chẳng gì thì hôm nay cũng là ngày tết sớm với đảo Song Tử Tây.

 Từng mấy mùa vượt sóng cuối năm ra thăm chúc  tết quân và dân trên quần đảo Trường Sa tôi hoàn toàn có thể hiểu và chia sẻ cái cảm giác của những người đón tết trên thềm sóng nước Trường Sa - Những cái tết sớm lần lượt theo tàu đến từng đảo nổi đảo chìm. Âu cũng là nét riêng trong tục đón tết của những công dân giữ  đảo giữa trùng khơi.

Cũng không đợi lâu ngay khi đoàn khách trong bờ theo xuồng cập đảo sau “màn chào hỏi”  theo đúng quân phong quân kỷ… Chưa kịp uống hết chung trà đã nghe  từ bếp Làng  đảo tiếng  “gà kêu lợn éc” rất gợi. Thượng tá trưởng làng đảo Trịnh Lương Vượng xoa tay giọng xứ thanh rất chi trịnh trọng:- Năm hết tết sắp đến nhân dịp khách quý từ bờ ra thăm làng đảo tổ chức thịt gà mổ heo cùng ăn tết đợt 1 với khách.

Sực nhớ  khi chúng tôi cùng đoàn công tác của vùng Đ xuống xuồng ngoài những nếp đậu bánh mứt theo đúng tiêu chuẩn ngày tết tuyệt nhiên không thấy một chú heo nào theo xuồng vào đảo không biết heo đâu mà eng éc thế kia? Đem cái băn khoăn của người thăm làng đảo mà hỏi trưởng làng đảo trưởng hóm hỉnh:- Chú heo giết thịt chiều nay là heo làng đảo nuôi theo phương thức nuôi heo sạch.

Thì ra trong số các làng đảo cánh bắc làng đảo Song Tử Tây có điều kiện tăng gia chăn nuôi. Đặc biệt ngoài gà vịt và  heo nuôi thành đàn đây là làng đảo duy nhất trong quần đảo Trường Sa đưa được bò từ đất liền ra nuôi. Theo trưởng làng hiện tại rau ráng trồng quanh làng đảo tuy không nhiều như ở trong bờ nhưng cũng đủ “chất xanh”. Riêng gà heo bảo đảm để có thể  mổ định kì mỗi tháng một đôi lần cho các công dân làng đảo  có bữa ăn tươi và giúp thêm cho cả “bà con” trạm đèn Hải đăng và trạm khí tượng thủy văn trên làng đảo. Ngày thường đủ chất ngày tết nói gì thì nói cũng hơn hẳn các làng  bạn vì vậy đảo giành suất heo sống trong bờ nhường cho đồng đội ở các khóm đảo chìm  vốn khó khăn hơn.

Làng! Có “hoàn cảnh” vật chất gần như Song Tử Tây nhưng làng  đảo Sơn Ca “ăn” tết kĩ lưỡng và bài bản hơn một chút. Chia sớt gạo thịt đậu nếp làm thành hai phần. Một phần đương nhiên giành cho ngày tết nguyên đán theo lịch tết cổ truyền. Phần khác được ngâm đãi rồi bê ra sân nhà đảo để rồi ngay dưới cột bia chủ quyền ngạo nghễ lá quốc kỳ thay cho cây nêu xua ma trừ quỷ ngày tết cánh lính đảo trổ tài gói bánh chưng bánh  tét với đủ món thịt mỡ dưa hành. Nhoáng trong một chiều chộn rộn đêm đến trên bàn thờ tổ quốc đã có đủ chồng bánh chưng hộp mứt chon chót đôi câu đối đỏ viết thoắng kiểu chữ ông… đồ:  Đón tết luyện kỹ thuật canh đất trời tổ quốc/ Mừng xuân rèn đôi tay giữ biển đảo quê hương. Đôi câu đối với ngữ nghĩa rõ ràng mạch lạc như một lời thề được trình bày đúng cách sáng láng đêm tất niên - dĩ nhiên  là đêm tất niên sớm hơn theo cách đón tết mừng xuân của lính đảo Trường Sa.

Ngẫu hứng từ không gian  tết sớm với đầy đủ thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ các chiến sỹ trẻ đảo Sơn Ca đã  chuyển  “hào khí” của đảo thành đêm Sơn Ca. Cùng vẫn là chương trình hái hoa dân chủ chương trình văn nghệ mừng Đảng mừng xuân của các chiến sỹ trẻ đã nhuốm hẳn sang phía khách thành đêm văn nghệ chung với sự tham gia  của các nhà báo và các thành viên trong đoàn công tác. Rồi trong cái không gian đượm phong chất làng quê đã như chẳng còn câu nệ trẻ già ông đại tá nông dân Nguyễn Văn Liên đã bất ngờ làm sôi thêm không gian tết Làng đảo Sơn Ca khi “xung phong” thể hiện ca khúc Khúc hát  sông quê.  Bài hát với ca từ tha thiết chân quê càng mềm hơn thấm hơn khi được người lính dày dạn trận mạc truyền cảm bằng chính chất giọng chân chất vùng chiêm trũng Gia Viễn Ninh Bình. Một cách hóm hỉnh ông đại tá  “rào chắn” theo kiểu quân sự :- Tôi hát hay thì các đồng chí nghe tôi hát không hay thì các đồng chí cũng … phải nghe!

Đương nhiên giữa cái không gian Làng đảo không thể và không có  ai lại đem so sánh hay dở giữa giọng ca của người vốn quen cầm súng với   giọng ca chuyên nghiệp. Song dám chắc chẳng ai có thể hát hay hơn ấn tượng hơn  bài hát về một con sông quê đầm ấm không gian làng  đảo giữa trùng xa.

Làng! Về hình thức hoàn toàn có thể gọi như vậy cho cả các làng đảo nổi   làng đảo chìm trên quây quần làng đảo Trường Sa tỉnh Khánh Hoà.  Trên các đảo nổi như Trường Sa lớn Trường Sa Đông An Bang Nam Yết Sơn Ca   Song Tử Tây… Mỗi đảo một nét riêng nhưng có chung một cảm nhận khi ta bước vào đảo như  bước vào một  làng quê truyền thống ở trong bờ với những thiết chế hạ tầng  “điện đường trường trạm”!

Về “điện” tuy chỉ là máy nổ pin mặt trời.. song biết căn cơ sắp xếp cũng đủ thắp sáng nghe đài xem ti vi nâng cao đời sống tinh thần cho công dân Làng đảo. Hiện tại khi giao niên từ Kỷ Sửu 2009 sang Canh Dần 2010 đến nay là nguyên hệ thống điện  quạt gió chạy ôm quanh làng đảo. Là thảm pin mặt trời trải dọc các con đường rộng rãi trải bê tông sân làng đảo. Cũng như quanh các trụ sở  UBND xã thị trấn trung tâm một số  Làng đảo ở Trường Sa trong khoảng một năm nay cũng đã  được trang bị cả hệ thống ăng ten tiếp sóng điện thoại truyền hình khiến cái khoảng các giữa các làng quê vốn cách trở biển  bờ bỗng kết lại gần gũi thân thương. 

Về “đường” tựa như trong bờ các cư dân vẫn  sống quần cư thành các làng nghề truyền thống thì trên các đảo nổi có ưu thế hơn đảo chìm một chút về “mặt bằng” cư dân ở đây  được phân định thành những cụm dân cư thích hợp theo chuyên ngành binh chủng chiến đấu. Giữa các cụm dân cư này được nối với nhau bằng những con đường lót bê tông uốn giữa  hàng  cây xanh được các công dân đảo trồng thành hàng thành lối sạch đẹp phong quang. Và điều đặc biệt hơn hẳn các làng quê trong bờ mỗi con đường nhỏ trên các đảo cùng có hẳn một cái tên như: Đường Phan Vinh… đường Trần Đức Phương; đường Thanh Niên cụm 1 đường Chi Đoàn  cụm 2; đường Dừa đường Phong Ba… chững chạc và ấn tượng.

Về “trường” đã đành cuộc sống trên tuyến làng đảo là một ngôi trường lớn cho mỗi công dân chiến sỹ. Song ở mỗi đảo ban chỉ huy đảo đều tạo điều kiện cho các  chiến sỹ trẻ biến ngôi nhà làng đảo thành trường lớp để giúp nhau học thêm ôn tập chờ hết nghĩa vụ sẽ về đầu quân thi vào các trường đại học. Chỉ riêng đảo làng Sơn Ca năm đó  đã có hẳn gần 20 “cậu tú” được chia thành hai lớp chuyên A và  B để ôn văn luyện toán ... Và mới đây cùng với hàng chục nóc nhà dân từ đất liền ra sinh cơ lập nghiệp làng đảo có thêm  hẳn một hệ thống trường học theo phương thức “trường xen lớp đúp” do  cô giáo trẻ Bùi Thị Nhung cùng chồng và con gái hơn 2 tuổi tình nguyện rời quê Suốt Cát Khánh Hòa để mang cái chữ đến  với các em nhỏ nơi làng đảo Trường sa.  

Hiện tại ngày hai buổi sáng mẫu giáo và lớp 1 chiều lớp 2 3… cuối kỳ tổ chức chấm điểm thi cử và  sau đó gửi quyết định lên lớp và học bạ vào đất liền để sau này Phòng giáo dục cấp bằng cho các em theo đúng quy chế của ngành.

Về khoản “trạm” đương nhiên làng đảo nào cũng có một trạm quân dân y. Nhỏ như làng đảo chìm thì một bác sỹ đa khoa một bộ phẫu thuật nhẹ một tủ thuốc đủ chủng loại…Lớn như làng đảo nổi có hẳn cả một phòng điều trị có đủ phòng khám giường bệnh vườn thuốc nam…  Và từng có  từ cái “trạm” của làng đảo với sự tăng cường của dàn bác sỹ Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 đúng 12 giờ 5 phút ngày 16/5/2009 công dân đầu tiên được sinh ra an toàn tại bệnh xá quân - dân y thuộc xã đảo Song Tử Tây  huyện đảo Trường Sa tỉnh Khánh Hoà…

Ấy là là mới chỉ là vẻ bên ngoài từ làng đảo nổi có điều kiện “thiên thời địa lợi” đến các làng đảo chìm giữa không gian nhà đảo chơi vơi trên sóng nước vẫn được tổ chức theo chuẩn “An toàn sạch đẹp tươi vui”. Chỉ qua  lối phân định cụm dân cư theo điều kiện riêng mỗi làng đảo cũng tự nhiên tạo nên phong cách riêng trong quan hệ giữa các  công dân trong từng cụm đảo theo kiểu  quan hệ xóm giềng. Ngày thường có cuộc  giao lưu giao kết hoặc giả có bữa tươi các công dân chiến sỹ chào gọi nhau nhà này khóm nọ  đầm ấm thân thương đầy “tình làng nghĩa xóm”. Chỉ riêng điều đó cũng khiến những  ai từng đến các điểm làng đảo nổi đảo chìm trên toàn tuyến quần thể làng đảo Trường Sa vẫn không thể quên được  ấn tượng đẹp về một cuộc sống biển đảo được tổ chức chặt chẽ khoa học ngăn nắp và sạch đẹp… Đương nhiên để duy trì cuộc sống chỉn chu một môi trường làng  đảo trong lành an toàn… các làng đảo đều có hẳn chỉ tiêu thi đua. Mỗi ngày mỗi tuần mỗi tháng… các ban kiểm tra “liên cụm” dân cư đều rà soát đánh giá xếp loại rất nghiêm túc. Sẽ không quá lời khi nói rằng chỉ riêng “ngoại hình” các làng khóm trên các đảo mà tôi đã từng được làm khách giám chắc về sự quy củ chỉn chu và sạch đẹp… hơn đứt  phần nhiều các làng quê trong bờ.

Tuy nhiên đó mới chỉ là hình thức qua thiết chế hạ tầng trên các đảo. Về nội dung tương tự như những làng khóm trong bờ đều có quy ước xây dựng làng khóm Văn Hóa với những tiêu chí mục tiêu cụ thể. Quy ước xây dựng làng Văn Hóa ở đảo là quy chế cũng là “hương ước” về tổ chức xây dựng làng đảo được  định  thành 5 điểm cụ thể trong các chỉ thị của các bộ ngành và chính phủ nước Cộng Hòa xã hội chủ nghĩ Việt Nam.

Điều đặc biệt ngoài những “điều” quy định chung trong “hương ước làng đảo” về ý chí chiến đấu về đoàn kết kỷ luật rèn luyện sức khỏe… phù hợp với tính chất nhiệm vụ bảo vệ đảo…  còn có những quy ước rất cụ thể tác động không nhỏ đến  phẩm chất nhân cách những người giữ đảo như:  Không  nói tục không chửi thề không uống bia rượu say không đánh bài đánh cờ ăn tiền …  Và dù là những quy ước thuần về sinh hoạt như vậy nhưng vẫn được coi trọng và luôn được kiểm tra đánh giá rất khắt khe theo đúng chuẩn “làng khóm văn hóa”.

 Làng ! Là nơi tuyến đảo chắn sóng phía cực đông tổ quốc từng đã hằn sâu ấn tượng đẹp và kiêu hùng của những người lính trẻ ngày đêm chắc tay súng sẵn sàng chiến đấu bảo vệ từng tấc biển đảo  thiêng liêng của tổ quốc. Tuy nhiên ít ai biết rằng bên cạnh cuộc sống sôi động không khí sẵn sàng chiến đấu ở mức cao nhất “nóng nhất” của những người lính đảo còn có một cuộc sống thường nhật rất ư bình dị với những hoa lá chim bướm và và những con vật nuôi dưa từ dát liền ra làm bạn với những ngưòi lính lúc xa bến xa bờ.

            Làng! Là bắt đầu từ hình ảnh một  chiến sĩ hải quân đang đứng gác tại đảo Sinh Tồn Đông. Phía trên là một cánh chim bồ câu chấp chới bay về phía tổ nơi hai con chim bồ câu đang đứng gù nghe rất thanh bình như  khát vọng hòa bình của những người lính  Trường Sa

Làng! ấy là tiếng meo meo của các anh chị …mão sẽ góp phần cũng bộ “tam cầm lục súc” dậu tuất hợi…làm ấm thêm không gian những gia đình Việt giữa làng đảo Việt quê nhà.  Đất lành nuôi cây nên trái ngọt. Những con vật nuôi trên đảo cũng như nhiễm khát vọng sống hòa bình của những công dân đảo   nên  cũng đã sống hòa bình thân thiện với nhau. Vậy nên những chú Mão chị Tuất được đưa  từ lũy tre làng Việt  ra với làng đảo Việt… ở Trường Sa đều sống thểu thảo thân thiện hòa bình với nhau làm  làm ấm thêm không gian làng đảo Việt. 

Làng! đã qua mấy mùa tết với các công dân làng đảo. Dẫu bây giờ khi  gõ từng câu chữ nối lại cái mạch cảm của mình Trong cái thanh âm đặc trưng Làng quê Việt Nam nhận được từ những ngôi Làng đảo Việt ở Trường Sa   trong tôi vẫn chưa hết cái cảm giác được lẫn vào trong hồn cốt của những ngôi làng đảo để rồi khi kết thúc bài viết khó dứt này vẫn dội lên trong tôi tiếng vọng từ ngàn khơi rằng:

Đảo xa vẫn một tiếng Làng!

 

                                                                        Trường Sa những ngày đầu  giêng Đinh Hợi 2007

                                                                         Nha Trang những ngày đầu giêng Tân Mão  2011

alt

Đường Thanh niên trên đảo Sơn Ca

alt

Đàn bò Xinh trên đảo Song Tử Tây

More...

Trường Sa Hoàng Sa trong trái tim ta: Trường ca Biển

By Sinh ở cuối dòng sông

TRƯỜNG CA BIỂN (Trích)

                                                                  Hữu Thỉnh

……

Biển có đảo biển đỡ lặp lại mình

Đảo có lính cát non thành Tổ quốc

 

Đảo nhỏ quá nói một câu là hết

Có gì đâu chỉ cát với chim thôi

Cát và chim và thêm nữa chúng tôi

Chúng tôi lên với áo quần ướt át

Với nắng nôi muối xát thân tàu

 

Đảo hiện ra thử thách bạc màu

Bàn chân lính đánh vần trên đất đai Tổ quốc

 

Sau bao rợn ngợp

Hiện lên đời mình

Niềm vui nỗi khổ

Đo cùng trời xanh

 

Chưa kịp đặt ba lô

Chúng tôi cùng nhau bới cát

Dọn một chỗ nằm cho đồng chí hy sinh

 

Chúng tôi đặt anh cạnh mốc chủ quyền

Cát và cát

Ầm ào sóng biển

Gió và gió

Ngày ngày lại đến

Xóa đi phần mộ của anh nằm

 

Chúng tôi lại cùng nhau bới cát

Chôn anh thêm một lần

Cát và cát

Ngày và ngày lại mới

Cát và cát

Ngày ngày lại mới

Cát và cát

Ngày ngày lại trắng

Trắng như bàn tay trắng chúng tôi

Úp lên số phận của bạn mình

 

Chúng tôi vốc cát lên

Chúng tôi nghe cát nói

Chúng tôi bắt đầu như thế với Trường Sa

…..

Tôi đang ở Trường Sa

Trong đội hình Song Tử Đông Song Tử Tây An Bang Nam Yết

Kết bạn với vô cùng

Đảo rập rờn chìm nổi những quả cân

Cân người lính và hiểm nguy người lính

 

Bạn tôi đang thổi sáo sau hầm

Bỗng ngừng bặt

Giữa chừng réo rắt

Chúng tôi chạy ra

Chấp chới cánh tay ngoài năm sải nước

Tiểu đội xếp hàng chuyển gạo

Sóng lườn quanh thân

Bỗng

Một tiếng thét

Một vũng máu

Một khoảng trống

 

Tôi gào lên

Im ắng rợn người

Tìm qua sóng

Gặp đàn cá mập

Rong rêu nhiều

Mà mất bạn

Bạn ơi!

 

Hôm đó đảo có thêm gạo mới

Chúng tôi đều bỏ cơm

Hôm đó đất liền ra thư

Chúng tôi bỏ thư ôm nhau khóc

 

Gạo chiều nay thành cơm cúng đưa tang

Thư chiều nay thành cơm cúng đưa tang

Thư chiều nay viết thêm vào lời điếu

Ngày mai lại có đoàn văn công

Em hãy đến

Ngổn ngang

Cùng im lặng!

 

Đời bao nhiêu trớ trêu mà đêm còn quá rộng

Đêm như là vắt kiệt các vì sao

Chúng tôi là lính đảo thời bình

Phải gồng mình cả khi yên tĩnh nhất

Để chống lại cái khoảng trống kia

Cái khoảng trống chực len vào đồng đội

Chực len vào giữa bạn và tôi

Cái khoảng trống lạnh tanh vô nghĩa

Có ngay trong chính bản thân mình

Chúng tôi vốc cát lên

Chúng tôi nghe cát nói

Chúng tôi bắt đầu như thế với Trường Sa.

…..

 alt

 

 

More...

Trường Sa Hoàng Sa trong trái tim ta: Báu vật ở Trường Sa

By Sinh ở cuối dòng sông

BÁU VẬT Ở TRƯỜNG SA

 

Trong chùm thơ và đoạn văn gửi đến mục “Trường Sa Hoàng Sa trong trái tim ta” bạn chanhrhum có câu :Với người lính Trường Sa/ Đất mới là báu vật hàng đầu. Tôi không biết bạn đã có dịp tới quần đảo phong ba chưa nhưng câu thơ ấy vô cùng chính xác và sâu sắc. Trường Sa những đảo nổi đảo chìm do san hô biển tích tụ từ hàng triệu năm dựng lên. Trên các đảo hầu như không có đất. Hàng năm tàu Hải quân ta phải chở đất từ đất liền ra để bộ đội và dân trồng cây. Năm 2000 tôi đi Trường Sa cùng với Đoàn Văn công Quân khu 4. Ca sĩ Bích Ngọc một người hát dân ca Nghệ Tĩnh nổi tiếng của Đoàn đã nói một câu mà tôi nhớ mãi: “Anh à em nghĩ các đoàn ra Trường Sa nên bớt mỗi người mấy cân hành lý để mang theo đất ra cho quần đảo”.

 

Có đất Trường Sa ngày càng xanh rờn bóng cây; mặc dù để có một bóng mát một bông hoa một chùm quả người lính và dân Trường Sa phải đổ ra biết bao mồ hôi mặn mòi. Thời tiết Trường Sa rất khắc nghiệt nên trồng được cây nào nuôi con gì cũng đều đáng được gọi là “kỷ lục” cả. Có lẽ vì thế mà chanhrhum khẳng định: Người lính đảo làm nên nhiều kỳ tích/ Lập thêm bao guiness để yêu đời/ Cây cối vật nuôi cũng ghi kỷ lục/ Vui kể người nghe chuyện lạ đảo tôi.

 

Ra Trường Sa hình như cái gì cũng gợi bóng dáng quê nhà. Một vườn rau muống rau cải xanh mơn mởn. Mấy dây mồng tơi leo quấn quýt bên hiên nhà. Cây ớt chỉ thiên chi chít quả. Bông sứ đỏ. Đàn bò đủng đỉnh đi trong chiều tà. Đàn chó quấn quýt người. Những vòng lượn yên bình của chim câu giữa lồng lộng trời biển Trường Sa. Và tiếng gà chao ôi tiếng gà gáy cũng “rất Trường Sa” đúng như chanhrhum viết: Gà không gáy gọi bình minh/ Vì mặt trời ở đây luôn dậy sớm cùng chiến sĩ hải quân. Từ tiếng gà người làm thơ đã nâng lên thành tình cảm với Tổ quốc và lòng yêu hòa bình của dân tộc chúng ta: Thân thương quá! Tổ quốc tôi bé nhỏ!/ Chẳng muốn nghe đâu đuỳnh đoành súng nổ/ Chỉ mong tiếng gà thanh khiết gọi bình minh. Đọc câu thơ tôi lại rưng rưng nhớ tới lời một chiến sĩ Trường Sa tâm sự: “Chúng em nuôi gà cho có tiếng quê trên đảo xa xôi”. Tiếng gà – Tiếng quê thiết nghĩ không gì đúng hơn và sâu sắc hơn thế nữa.

 

Trường Sa là quê hương chung yêu dấu của hàng triệu con người Việt Nam.

 

(Các bạn đọc thêm những bài thơ và đoạn văn của chanhrum về Trường Sa ở phần góp ý của bài trước)

                                                                                                                             Nguyễn Hữu Quý

alt

More...

Trường Sa Hoàng Sa trong trái tim ta

By Sinh ở cuối dòng sông

TRƯỜNG SA HOÀNG SA TRONG TRÁI TIM TA

 

Trong trái tim mỗi người dân Việt Nam dù ở đâu cũng mang hình bóng Trường Sa Hoàng Sa - những phần lãnh thổ vô cùng thiêng liêng của Tổ quốc. Sau khi đọc chùm thơ về Trường Sa của tôi bạn Lê Trường Hướng đã gửi tới bài và ảnh Cây phong ba ở Trường Sa. Bài thơ mộc mạc mà thấm đẫm tình yêu sâu sắc với quần đảo bão tố nằm ở đường chân trời. Bài thơ như sau :

 

CÂY PHONG BA Ở TRƯỜNG SA

Cây phong ba ở Trường Sa

Hiên ngang đứng giữa bao la biển trời

Phong ba bão táp tơi bời

Vững vàng bám rễ không rời đảo xa

Cùng người lính biển hiền hòa

Canh cho Đất Nước quê nhà bình yên.

Lê Trường Hướng

 

Từ đây tôi muốn mở mục: “Trường Sa Hoàng Sa trong trái tim ta” nhằm tập hợp giới thiệu những bài thơ đoạn văn tranh ảnh… sáng tác về 2 quần đảo yêu dấu này. Cũng là một cách thể hiện tình yêu nồng nàn của chúng ta đối với Trường Sa Hoàng Sa nói riêng và Đất nước Việt Nam nói chung. Tác phẩm các bạn gửi về theo địa chỉ email: nguyenhuuquy56@yahoo.com.vn hoặc trong phần góp ý của blogs nguyenhuuquy. Tha thiết mong các bạn gần xa đóng góp tác phẩm cho mục “Trường Sa Hoàng Sa trong trái tim ta”

                                                                                            Nguyễn Hữu Quý

alt

Đất nước ở Trường Sa

Ảnh Lê Bá Dương

More...

Chùm thơ về Trường Sa

By Sinh ở cuối dòng sông

CHÙM THƠ VỀ TRƯỜNG SA

Biển đảo Việt Nam là phần lãnh thổ vô cùng thiêng liêng của Tổ quốc. Đó chính là mồ hôi xương máu của ông cha ta bao đời để lại. Chưa bao giờ những tên gọi Hoàng Sa Trường Sa lại vang lên đầy xúc động trong trái tim những người dân Việt dù trong nước hay nước ngoài như hôm nay. Trên quần đảo Trường Sa các chiến sĩ của ta đang ngày đêm nâng cao cảnh giác sẵn sàng đập tan những âm mưu xâm chiếm của kẻ tham lam. Những người lính đảo ấy mang tinh thần Việt tâm hồn Việt như là sự kết tụ của hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc. Trong muôn vàn gian khổ họ vẫn vững chãi niềm tin và lạc quan. Trong một chuyến đi Trường Sa tôi đã viết chùm thơ phản ánh niềm tin và lòng lạc quan ấy của chiến sĩ ta.

Nguyễn Hữu Quý

 alt

                                       Ảnh Lê Bá Dương

LÀNG ĐẢO

 

Trập trùng sóng trập trùng mây

Giữa bao la biển ô hay làng mình!

Cũng vàng hoa mướp rung rinh

Cũng tươi hoa muống trắng tinh cạnh nhà

Mồng tơi ra với Trường Sa

Lá xanh quấn quýt như là đợi em

Muốn xem ra đó mà xem

Rau sam trên đá rau dền trong khay

Đất quê đóng gói về đây

Lính gieo hạt xuống thành cây thành làng

Đảo xanh biển bớt mênh mang

Đá san hô thấm mấy tầng mồ hôi!

 

Làng tươi roi rói nụ cười

Câu chèo ai hát í ơi cầu vồng

Vui gì bằng đón văn công

Da đen là lính má hồng là em

Lính kề vai lính ngồi xem

Mấy bông muống trắng hái đem tặng người

Ở nơi cuối đất cùng trời

Chiếc hôn cũng mặn gió khơi ngập ngừng

Chúng mình ngồi với rưng rưng

Hát trăng hát gió hát cùng Trường Sa

Hát cùng em hát cùng ta

Đảo chìm đảo nổi đồng ca với mình

Thương ai mắt cứ lặng nhìn

Một ngày bằng mấy nghĩa tình trăm năm !

 

Mai xa vương vấn hôm rằm

Tròn trăng em hát giữa làng Trường Sa...

alt

                                                                                  Ảnh Lê Bá Dương 

MÙA XUÂN TRƯỜNG SA

 

Mặn lên da là biển

Mặn xuống tóc là trời

Lính đảo không trắng nổi

Yêu ? Hay...đừng em ơi ?

 

Đảo đảo mọc thành chùm

Lính làm hoa cho bể

Mùa xuân Trường Sa trẻ

Như binh nhất binh nhì

 

Sóng sóng dội bốn bề

Đảo chìm và đảo nổi

Thương nhau thì em nhé

Cưỡi sóng tìm nhau thôi !

 

Dẫu cuối đất cùng trời

Vẫn nồng nàn Tổ quốc

Câu dân ca đằm ngọt

Ru ru mầm đá lên

 

Nơi mây nước nối liền

Làng đảo kê đỉnh sóng

Chỉ một nét thư nghiêng

Cũng thật nhiều xao động !

 

Sinh ra đầu ngọn gió

Hoa bão táp chờ em

Cánh trắng như nỗi nhớ

Anh gửi vào tháng Giêng...

 

ĐÁ BÓNG Ở TRƯỜNG SA ĐÔNG

 

Da đã đen rồi cần gì áo xống

cứ cởi trần cho lộng gió biển khơi

sân không cỏ vẫn cứ là sân bóng

mặt đá san hô lởm chởm chân trời

 

Đảo thì hẹp sân chẳng dài chẳng rộng

thiếu trọng tài vắng thiếu nữ tặng hoa

chỉ có lính hò reo cùng biển cả

biển vui lây tay sóng vỗ ì ầm

 

Những chàng trai ngực nở chân săn

những cầu thủ không tuổi tên áo số

lính quần đảo hồn nhiên như tuổi nhỏ

tắm nắng chiều nhễ nhại đá say sưa

 

Ồ có lúc cũng cãi cọ ăn thua

cũng xô đẩy đá bóng mà ai trách !

chỉ nhắc nhau đừng mạnh chân sút phạt

bóng bay vèo ra biển mông mênh

 

Nắng tắt rồi quả bóng đã nằm yên

kẻ thắng người thua chia nhau ca nước ngọt

trăng vành vạnh bay lên trước ngực

một trái rằm từ góc bể gửi về em…

 

 

 

 

 

 

More...

Lá bùa giêng hai

By Sinh ở cuối dòng sông

Nguyễn Hữu Quý

LÁ BÙA GIÊNG HAI

 

Ngày mai em đi lễ chùa

xin cho anh một lá bùa giêng hai

cầu mong còn vững bờ vai

đỡ bao con sóng mệt nhoài ngủ yên.

 

Hỏi rằng: còn Phật còn Tiên

còn bao la cõi Người Hiền chở che?

vượt qua bến lú bãi mê

lội băng nước đục ta về dòng trong

 

Cỏn con ở giữa mênh mông

trần gian lành ít dữ chồng chất cao

khóc cười một cuộc chiêm bao

hỗn mang nhân thế biết nào về đâu?

 

Dọn lòng còn có mai sau

phiêu diêu cát trắng nhịp cầu âm dương

ta về neo lại quê hương

cỏ xanh – bùa lá – bên đường à ơ

alt

Sông Linh Giang (sông Gianh)

Ảnh sưu tầm

More...

Nguyễn Hữu Quý thắp hương mộ mẹ

By Sinh ở cuối dòng sông

 

alt 

Vũ Bình Lục

 

NGUYỄN HỮU QUÝ THẮP HƯƠNG MỘ MẸ

(Về bài thơ “Thắp hương mộ mẹ” của Nguyễn Hữu Quý)

 

Vậy thôi nấm cát là là

bia khắc tên mẹ chữ nhoà mắt con

ở đâu mẹ giữa mất còn

tìm đâu mẹ giữa chon von đất trời?

 

Cái buồn ở với mồ côi

ai che lối gió ai bồi nẻo mưa…

ba mươi năm bấy nhiêu mùa

giờ nghe cát cháy quặn trưa gió Lào

 

Cuộc đời ngắn ngủi làm sao

bom rơi

cát đổ

máu trào

mẹ ơi!

 

Đớn đau thay một kiếp người

tóc còn xanh

đã

xuống lời trối trăng!

 

Đau buồn con vẫn còn mang

cỏ chưa xanh cát đã vàng tháng ba

đội trời ngồi với mẹ ta

thương xưa áo vá khoai cà Ô Châu(*)

 

Cúi đầu thắp mấy nén đau

ngậm ngùi thấm cõi dày sâu mấy tầng?

chiều sang

bóng ngã âm thầm

trắng hời gió cát dấu chân mẹ về…

                              Thanh Trạch 3.1998

 

Tác giả chú: Khi còn sống mẹ tôi thường đọc:

“Quảng Bình là đất Ô Châu

Ai đi đến đó quảy bầu về không”

                                        (Ca dao xưa)

            Các nhà thơ Việt Nam không mấy ai là không viết về mẹ. Người mẹ đã sinh ra ta dưỡng dục ta lên người. Cũng có thể là người mẹ đã sinh ra người bạn đời của ta hoặc như người mẹ được nhìn ở những góc tâm cảm khác nhau những cảnh huống khác nhau.  Thậm chí hình ảnh người mẹ còn được nâng lên ngang tầm Tổ quốc thiêng liêng…Thật là phong phú muôn hình nhiều vẻ.

            Tuy nhiên mức độ thành công ở những thi phẩm viết về người mẹ dưới góc độ một đề tài văn học cũng rất khác nhau. Có bài hay hay ở bài nhưng không có câu thật hay để găm vào trí nhớ người đọc. Có bài tứ hay nhưng bài thơ lại không bứt lên khỏi mức trung bình. Cũng có bài thường thường bậc trung nhưng lại đột nhiên có câu hay. Cũng có bài viết khéo nhưng tình thơ nhạt và sáo…Cái sự hay và chưa hay ở những bài thơ viết về mẹ đương nhiên thể hiện ở tài thơ tác giả ở sự thăng hoa cảm hứng trời cho ở tình nồng nghĩa đậm. Đây là câu chuyện dài dài xin chỉ nói đại khái thế thôi!

            Nguyễn Hữu Quý là nhà thơ mặc áo lính lại sinh ra ở miền quê gió Lào cát trắng Quảng Bình. Cái đất Ô Châu ấy tạo hóa cho nhiều cảnh đẹp nhưng thiên nhiên đỏng đảnh quá nhiều cát quá thừa thãi cái nắng cái gió không mấy thuận lợi cho công việc cấy cày nên cuộc sống người dân phần nhiều quẩn quanh trong nghèo khó.

            Thế nhưng ở vùng đất nhiều gian khổ như Quảng Bình lại chính là nơi đã sinh ra những con người ưu tú dũng cảm bền gan trong thời chiến cũng như thời bình lại giàu lòng nhân hậu trung trinh. Nguyễn Hữu Quý có người mẹ bị bom Mỹ giết hại khi anh mới mười hai tuổi tức năm 1968. Bài thơ “Thắp hương mộ mẹ” tác giả viết năm 1998 khi người mẹ quý yêu của anh mất vừa tròn ba mươi năm.

           Ba mươi năm với một đời người là khoảng thời gian khá dài có thể đã diễn ra biết bao sự kiện quan trọng và có thể là cả những biến cố lớn lao. Cậu bé Quý mồ côi mẹ ngơ ngác trước cuộc đời dần lớn lên trong gió Lào cát trắng với khoai sắn Ô Châu rồi thành anh lính binh nhì thành chồng thành cha thành sỹ quan cao cấp trong quân đội. Và lại thành cả… thi sỹ nữa!

            Về thắp hương mộ mẹ Nguyễn Hữu Quý viết những câu mở đầu thật cảm động.“Vậy thôi nấm cát là là / bia khắc tên mẹ chữ nhoà mắt con / ở đâu mẹ giữa mất còn / tìm đâu mẹ giữa chon von đất trời?”…

            Đấy là những rung động trực cảm trực quan khi anh lần ra bãi cát mênh mông nhấp nhô như sóng những “nấm cát là là” thế giới của những linh hồn “thập loại chúng sinh”. Ba mươi năm mẹ nằm đây dưới “nấm cát là là” giữa mênh mông gió nắng giữa “chon von đất trời” sao cầm được nước mắt? Nên chi “bia khắc tên mẹ / chữ nhoà mắt con” cũng là cảm xúc thông thường của tình mẫu tử.

            Nhưng mà ở đây vẫn có điều đặc biệt chưa dám nói là đặc tả ấy là nấm mộ mẹ anh. Tác giả viết “nấm cát là là” chứ không phải là “nấm đất” (xè xè nấm đất bên đường - Truyện Kiều) như ở những vùng quê khác. Nghĩa trang ở vùng cát mộ đắp bằng cát gió lớn thổi miên man gặm vẹt dần đi nên những nấm mộ ở đây cũng chỉ “là là”vậy thôi. Thật là tinh tế và chính xác. Không ở vùng quê ấy sao hiểu rõ được chữ nghĩa của người thơ vùng ấy! Lại còn chữ “chon von”  (tìm đâu mẹ giữa chon von đất trời?). Hoá ra mẹ nằm dưới “nấm cát là là” thâm thấp này đây nhưng linh hồn mẹ đang lơ lửng trong mênh mông trời đất. Chữ “chon von” gợi được nhiều liên tưởng gợi sự lơ lửng của những linh hồn khi cao vút khi chập chờn giữa khoảng mênh mông…Khổ thơ mở đầu đã gợi một niềm xót thương một nỗi trống vắng một cảm giác cô đơn khi tác giả ngồi bên nấm mồ nhỏ nhoi của người mẹ thật gần mà như xa thăm thẳm.

            Đoạn thơ tiếp đó là những cảm thức ở chiều sâu: “Cái buồn ở với mồ côi / ai che lối gió ai bồi nẻo mưa / ba mươi năm bấy nhiêu mùa / giờ nghe cát cháy quặn trưa gió Lào”

            Cũng vẫn là những giãi bày tình con với mẹ. Không còn mẹ con thành mồ côi. Không còn mẹ thì lấy “ai che lối gió ai bồi nẻo mưa” khi con bé bỏng bơ vơ giữa cuộc đời muôn nỗi chông chênh? Câu “Nỗi buồn ở với mồ côi / ai che lối gió ai bồi nẻo mưa” là một câu lục bát hay vừa cụ thể lại vừa khái quát hàm ẩn diễn đạt rất chính xác sự thiếu vắng sự hẫng hụt không sao bù đắp nổi khi con không còn mẹ chở che nuôi dưỡng. Ba mươi năm vắng bóng mẹ giờ đây chỉ còn “nghe cát cháy quặn trư gió Lào”…

            Khổ thơ thứ ba gợi một thoáng hình ảnh mẹ cùng nỗi tiếc thương vô hạn của con. Tác giả viết: “Cuộc đời ngắn ngủi làm sao / bom rơi cát đỏ máu trào mẹ ơi! / đớn đau thay một kiếp nguời / tóc còn xanh đã xuống lời trối trăng!”…

            Những câu lục bát được ngắt ra đứng riêng ra từng ý ở đây đương nhiên không phải là một sự làm mới theo thời. Nó là một hình thức nhấn mạnh ý nhấn mạnh từng cung bậc cảm xúc như thể những nghẹn ngào đứt quãng như thể những thổn thức của tiếng lòng hoang hoải đầy vơi…

            Trong khổ thơ xúc tích này chỉ có một chữ tôi ngờ rằng hình như chưa thật đắt ấy là chữ “xuống” (tóc còn xanh / đã / xuống lời trối trăng!). Ví thử Nguyễn Hữu Quý dùng chữ “Rụng” chẳng hạn ( tóc còn xanh đã rụng lời trối trăng!) vừa chuyển tải được ý rụng xuống trút xuống lại vừa ngầm hàm chứa sự tiếp nối mạch nguồn xa xưa “lá xanh rụng xuống trời hay chăng trời” lại như thể một nốt trầm xao xuyến…Đấy chỉ là một kiểu chọn chữ theo giả định của kẻ viết bài này để tham khảo cái vẻ đẹp của hồn chữ mà thôi!

Một người mẹ trẻ mất khi mới ngoài ba mươi tuổi cuộc đời đang tươi xanh bỗng vôị vã ra đi bỗng rụng xuống như một chiếc lá còn xanh. Đoạn thơ thể hiện nỗi xót thương mẹ còn ngầm lên án tội ác giặc Mỹ xâm lược đã gieo biết mấy đau thương trên mảnh đất này!

            Hai khổ thơ cuối lại trở về với thực tại với ngậm ngùi thương tiếc. Có những câu thơ đã đạt tới sự chuẩn mực có thể ở lâu trong lòng người đọc:  “đội trời ngồi với mẹ ta / thương xưa áo vá khoai cà Ô Châu”; hoặc như “Cúi đầu thắp mấy nén đau / ngậm ngùi thấm nỗi dày sâu mấy tầng?”…

            “Thắp hương mộ mẹ” của Nguyễn Hữu Quý là bài thơ hay về đề tài người mẹ về tình mẫu tử muôn đời không bao giờ cũ. Một bài thơ lục bát nhuần nhuyễn tự nhiên lại rất cá thể ở những chi tiết. Nhưng điều quan trọng hơn là tình thơ mặn mà chân thật. Thơ có thể làm rơi nước mắt người đọc trước hết là ở tình thơ chân thật. Mọi sự gia công chỉ có thể bồi đắp thêm làm rực rỡ thêm cho tác phẩm mà thôi!

                                               

                                                                                                                                        Hà Nội 2-3-2011

 

More...

Thơ buồn

By Sinh ở cuối dòng sông

THƠ BUỒN

Ngày 28 tháng 2 năm 2011(tức 26 tháng Giêng Tân Mão) Tạp chí Văn nghệ Quân đội cùng gia đình bè bạn tiễn trung tá họa sĩ Quách Đại Hải về Đài hóa thân hoàn vũ Văn Điển Hà Nội. Nỗi đau thương chưa kịp vơi thì thiếu tướng nhà văn Dũng Hà nguyên TBT tạp chí VNQĐ lại ra đi trong những ngày đầu xuân Tân Mão này. 10 giờ ngày 4 tháng 3 năm 2011(30 tháng Giêng) lễ viếng nhà văn Dũng Hà được tổ chức tại Nhà tang lễ Bộ Quốc phòng. Đau thương nối tiếp đau thương. Là người từng sống và làm việc với 2 anh trong cùng Ngôi nhà số 4 Lý Nam Đế tôi xúc động viết 2 bài thơ viếng họa sỹ Quách Đại Hải và nhà văn Dũng Hà. Xin được xem đây là 2 nén tâm hương viếng 2 anh những người tôi luôn quý trọng.

Nguyễn Hữu Quý

 

THƠ TIỄN ANH - HỌA SỸ QUÁCH ĐẠI HẢI

 

Sớm xuân nay mưa phùn bay nhẹ

Đài hóa thân sáng rực tên anh

Sau sáu ba năm (*) người họa sỹ

Vẽ lên Trời ngọn khói mong manh…

                                   Đêm 28.2.2011

--------------------

(*) Họa sỹ Quách Đại Hải hưởng dương 63 năm.

 

 

VIẾNG NHÀ VĂN DŨNG HÀ

 

Sao Mai (*) lấp lánh trên áo cỏ

Nhắc thời trận mạc lặng thầm qua

Đời lính nghiệp văn bao gian khổ

Sông cạn (*) thương anh chợt vỡ òa!

                                     Đêm 3 tháng 3 năm 2011

-------------------

(*) Tên 2 tiểu thuyết nổi tiếng của nhà văn Dũng Hà

 

More...