Chùm thơ về Đền Hùng:

By Sinh ở cuối dòng sông

Nguyễn Hữu Quý

SOI GƯƠNG GIẾNG NGỌC

 

Tôi soi vào Nước ngàn xưa

thấy dân đi cấy với vua đi cày

núi Hùng chim Lạc rợp bay

hoang sơ xóm mạc tháng ngày hồn nhiên

Thậm Thình vọng tiếng chày đêm

lúa Giao Chỉ đã chín lên hai mùa

trời tròn đỏ nắng trắng mưa

đất xanh cây cỏ gió lùa ba sông.

 

Tôi soi vào Cội nguồn trong

thấy Tiên là mẹ thấy Rồng là cha

thấy mình là nụ là hoa

hương thơm từ thuở xưa xa thơm về

thạp đồng rung nhịp đam mê

nghìn năm kẽo kẹt sinh quê đẻ làng

rộng dài một dải giang san

linh thiêng trời đất đa mang khởi đầu!

 

Tôi soi vào Cõi lắng sâu

thấy voi đánh giặc về chầu Tổ tiên

ráng hồng ngựa sắt bay lên

áo bào để lại bồi đền phù sa

dẻo thơm kính mẹ dâng cha

miếng cơm địu sắn tương cà nuôi nhau

vôi nồng quấn quýt trầu cau

ai ru thắm thiết nỗi đau lỡ làng.

 

Tôi soi vào Chốn dịu dàng

thấy trong cát mịn ánh vàng trái tim

mịt mù tăm cá bóng chim

cái duyên lặn lội đi tìm cái duyên

núi che lán sông chở thuyền

bão giông ôm lấy lời nguyền trăm năm

lứa đôi cứ vậy nồng nàn

gái trai thành nước non ngàn dặm xanh…

 

                                   Đền Hùng 9.1998

alt

 

CÕI ẤM

 

Chò nghìn tuổi tán tỏa xanh vạn dặm

bảy trăm năm vạn tuế trổ ba chồi

sông ba ngọn trẩy mưa về tắm gội

những đền đài linh thiêng

 

Nghĩa Lĩnh cao ngàn bậc ta lên

đại lung linh hoa trắng

hoa thơm người người thơm hoa. Cõi ấm…

lòng lâng lâng núi cội sông nguồn

 

Làng Cổ tích mở mang dài rộng

nay ngược xuôi con cháu tìm về

cây thiên kỷ vọng lời Người dựng Nước

gặp nẻo xưa thơm lúa Lạc điền

 

Thì vẫn đấy bánh Đất Trời dâng cúng

thì vẫn em xoan ghẹo mượt mà

cả anh nữa tóc hăng mùi gió cỏ

mũ bông lau chim Lạc cắm hôm nào…

 

Mây Hy Cương bay bay mãi muôn sau

đưa trai gái về soi gương Giếng Ngọc

giếng cứ vậy nắng mưa nguyên mực nước

như vĩnh hằng vành vạnh mặt rằm trong!

 

                          Đền Hùng 3/2000

alt

 

TỨ KHÚC

CHO THẠP ĐỒNG ĐÀO THỊNH (*)

 1

Tôi nghe nồng nã đất trời

ở trong sấp ngửa của thời hồn nhiên

nghìn năm thăm thẳm lặng yên

gái trai ai khéo đúc nên dáng hình.

2

Mới hay cái nhịp tang tình

cất lên là lửa lặng chìm là than

nghìn năm bão dập mưa chan

cõi yêu vẫn của thế gian thuở đầu.

3

Ngỡ như môi vẫn đỏ trầu

tưởng rằng tóc vẫn ánh màu trăng sao

nghìn năm đằng đẵng binh đao

nét son gìn giữ gửi trao người hiền.

4

Sống có tuổi chết còn tên

dẫu thành tro bụi hẹn bên nhau về

nghìn năm quấn quýt đam mê

hồn quê quyện lấy hồn quê vuông tròn!

----------------

(*): Trên nắp thạp đồng Đào Thịnh (thời Hùng Vương) có đúc hình các đôi trai gái đang ân ái rất gợi cảm.

More...

Những nẻo đường Đất Nước: Đưa em lên Đá Chông

By Sinh ở cuối dòng sông

ĐƯA EM LÊN ĐÁ CHÔNG

                                                                Thanh Khê

Không xa mấy trung tâm Hà Nội Đá Chông là lựa chọn của tôi và em trong ngày nghỉ cuối tuần. Sự hấp dẫn của di tích này là cảnh sơn thủy hữu tình gắn với những truyền thuyết câu chuyện về Thánh Tản Viên và Bác Hồ kính yêu của chúng ta.

Nằm trên núi U Rồng thuộc dãy Tản Viên Đá Chông mang vẻ đẹp nguyên sơ tĩnh mịch với những hàng thông xù xì vạm vỡ lá kim vi vút bốn mùa. Xen kẽ là những loài cây gỗ lớn lá rộng có hàng trăm hàng nghìn năm tuổi càng làm tăng thêm nét thâm u cổ kính của cánh rừng nguyên sinh. Đi dưới tán rừng già râm mát em reo lên thích thú khi trông thấy những tảng đá đứng lô nhô sắc nhọn như chông như chà.

“Giống như ai đã từng bày binh bố trận ở nơi này anh nhỉ?”. Em hỏi. “Ừ đúng vậy theo truyền thuyết thì đây là dấu tích của những cuộc đọ sức dữ dội giữa Sơn Tinh và Thủy Tinh thời xa lắc xa lơ. Lòng ghen tuông của chàng Thủy Tinh si tình ghê gớm thật bao nhiêu bão giông mưa lũ cuồn cuộn đổ về đây bao nhiêu thủy quái được điều đến để hòng cướp lại người đẹp từ tay Sơn Tinh ầm ầm ào ào suốt mấy ngày liền và hàng nghìn năm sau vẫn chưa thôi cơn giận dữ. Cuộc chiến vì người đẹp bao giờ cũng bi tráng”. Tôi khẳng định. Cái chất lãng mạn phảng phất trong chuyến đi của tôi và em nhờ những câu chuyện lan man như thế.

Tôi kể thêm với em rằng sông Đà từ Lai Châu cheo leo xa tắp về Hòa Bình xuôi chảy qua làng Khê Thượng khi đến đây đã bất ngờ đổi hướng chuyển dòng lên phía Bắc tạo ra một khúc gãy lạ kỳ để tìm tới ngã ba Bạch Hạc hội tụ với sông Hồng sông Thao tạo thành lưu thủy mênh mang về chầu Đền Hùng mộ Tổ. Chúng thủy giai Đông tẩu / Đà giang độc Bắc lưu. (Các sông đều chảy về Đông / Sông Đà riêng một ngược dòng Bắc lưu). Trong Diễn ca Thánh Tản Viên – Sơn Tinh có viết thế. Quả là một vùng núi sông danh thắng linh thiêng hữu tình.

Đá Chông càng thêm giá trị khi ở đây có thêm di tích K9. Năm 1957 Bác Hồ cùng các đồng chí trong Quân ủy Trung ương đi kiểm tra diễn tập của Sư đoàn 308 khi dừng chân tại đây Người đã nhận ra linh khí trong thế núi hình sông của vùng đất này. Dãy Tản Viên Sơn ở phía Đông dãy Thiết Sơn ở phía Tây lại thêm Đà giang độc đáo liền kề xét theo phong thủy thật là đắc địa cho việc dựng Khu căn cứ. Bác đã quyết định chọn Đá Chông làm “Khu căn cứ địa” để chuẩn bị cho công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước dài lâu của dân tộc ta.

Vẫn còn đây ngôi nhà sàn do chính tay Bác chỉnh sửa thiết kế và chọn hướng đã được khởi công xây dựng vào tháng 5 năm 1958 và hoàn thành vào tháng 3 năm 1960. Ngôi nhà nhìn về hướng Nam xung quanh có nhiều cây cổ thụ râm mát. Tiếp đó là nhà làm việc của Bộ Chính trị Trung ương Chính phủ. Trong xây dựng công trình Bác không cho chặt một cây cổ thụ nào hết. Trước sân nhà Bác cho rải sỏi tự nhiên chứ không đổ bê tông. Vừa hài hòa với cảnh vật vừa dễ phát hiện thú dữ kẻ gian xâm nhập. Các ô cửa sổ đều đặt lưới chống muỗi nhưng vẫn rất thoáng đãng để đón các ngọn gió rừng mát mẻ ùa vào nhà.

Bác đã có 9 năm làm việc tại đây từ 1960 đến 1969. Trong mỗi căn phòng lối đi cành cây ngọn lá tưởng như còn vương vấn tâm hồn Bác. Một lãnh tụ anh minh kiệt xuất của dân tộc cũng là một thi sĩ đau đáu yêu từng ngọn lá mỗi nhành hoa. Sự giản dị đậm đà tinh hoa truyền thống dân tộc và văn minh tương lai nhân loại của Hồ Chí Minh như đang ẩn hiện ở nơi này. Trước ngôi nhà làm việc của Bác có hai cây vàng anh tỏa cành vươn lá xanh biếc. Đó là hai cây lưu niệm do anh hùng vũ trụ Liên Xô (thời ấy) Giécman Titốp và phu nhân của Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai bà Đặng Dĩnh Siêu trồng khi đến thăm Bác.

Điều làm cho cả em và tôi vô cùng xúc động là khi đứng trước ngôi nhà từng là nơi giữ thi hài của Bác những năm kháng chiến chống Mỹ. Từ ngày 23 tháng 12 năm 1969 đến 18 tháng 7 năm 1975 thi hài của Bác được giữ ở đây trong khu rừng Đá Chông nguyên sinh đầy huyền tích kỳ lạ. Không ít những kỷ vật thiêng liêng gắn với 9 năm bằng thời gian cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trước đó Bác làm việc tại Đá Chông này.

Một cuộc hành hương về chốn danh sơn thiêng liêng gắn với tên tuổi công tích sự nghiệp của những vì sao đất nước: Thánh Tản Viên Chủ tịch Hồ Chí Minh. Rời Đá Chông tôi và em vẫn rưng rưng nhiều cảm xúc  trong sáng đẹp đẽ không nói hết thành lời.

alt

Ảnh sưu tầm trên NET

 

More...

Lăng kính của Tui: Hầu chuyện Hậu duệ Thần Kim Quy

By Sinh ở cuối dòng sông

HẦU CHUYỆN HẬU DUỆ THẦN KIM QUY

 

Hậu duệ Thần Kim Quy đấy là cách tôi gọi Cụ Rùa Hồ Gươm kính mến của chúng ta. Sau một thời gian sống ngột ngạt trong lòng Hồ Gươm ô nhiễm nặng và bị lũ rùa tai đỏ phàm ăn “quấy nhiễu” Cụ được phát hiện bị bệnh và được đưa lên “bể thông minh” ở chân Tháp Rùa để điều trị. May mắn tôi đã gặp Cụ và có mấy chục phút được hầu chuyện với Hậu duệ Thần Kim Quy này.

Tôi:Chào Cụ! Xin giới thiệu cháu là nhà báo. Cháu đến thăm Cụ đây ạ!

Cụ Rùa: Chào cháu. Ta cảm ơn tình cảm của cháu dành cho ta. Thế ngoài việc thăm ta cháu còn muốn gì nữa không?

Tôi:Dạ. Cháu thật sự áy náy khi đường đột đến làm phiền Cụ khi biết rằng Cụ vừa trải qua những tháng ngày sống mệt nhọc trong môi trường thiếu trong sạch của Hồ Gươm và đang được chữa bệnh. Nhưng cầm lòng không đặng cháu muốn được có mấy lời thưa với Cụ…

Cụ  Rùa: (mỉm cười) Thói quen nghề nghiệp đúng không! Ta chưa được khỏe lắm nhưng lẽ nào lại từ chối nhà báo. Nào cháu bắt đầu đi.

Tôi: Trước tiên cháu muốn hỏi Cụ có cảm giác thế nào khi được “lai dắt” về đây để chữa bệnh.

Cụ Rùa: Ta sống ở hồ tự do quen rồi nên cảm thấy không thoái mái lắm khi bị “bắt” vào ở trong cái bể bé nhỏ này. Nhưng ta nghĩ con cháu không muốn thế. Chẳng qua vì ta bị bệnh nên “chúng nó” mới đưa ta vào đây để điều trị. Việc bất đắc dĩ thôi. Nói là chật vậy nhưng ta cũng được ưu tiên đấy VIP mà! (cười). Ta biết nhiều bệnh viện ở Nước Nam mình 2-3 bệnh nhân nằm chung một giường chật chội bức bối lắm.

Tôi: Vâng đất nước mình còn nghèo nên đụng vào cái gì cũng khó khăn thiếu thốn lắm ạ.

Cụ Rùa: Ta biết chứ. Từ xưa đến nay Nước Nam mình đã giàu bao giờ đâu. Có giàu cũng chỉ là giàu tiềm năng như cách các cháu hay nói. Giàu theo cách các cháu được học trong sách giáo khoa là « Việt Nam rừng vàng biển bạc ». Còn dân mình ta biết còn khổ lắm. Thời Cố ta Thần Kim Quy dân mình đã khổ rồi đến bây giờ qua thập kỷ thứ 2 của thế kỷ 21 vẫn khổ vẫn thiếu vẫn khó. Nhưng mà này khổ là khổ dân thôi chứ ta thấy nhiều ông cán bộ giàu lắm ; biệt thự đất cát xe hơi vàng đô la dư dả. Cuộc sống gia đình họ con cái họ so với dân lành cách nhau một trời một vực.

Tôi : Dạ điều ấy thì ai cũng thấy nhưng khó nói lắm Cụ ạ. Người ta vẫn biết nguồn gốc của sự giàu sang bất thường ấy là gì nhưng khó tìm được chứng cứ để luận tội.

Cụ Rùa : Ta biết nạn tham nhũng ở Nước Nam mình bây giờ đã trở thành « quốc nạn ». Biết họ giàu lên vùn vụt không phải nhờ đồng lương nhờ làm thêm mà chủ yếu là do tham nhũng nhận hối lộ.(thở dài). Nhưng ta biết cuộc chiến chống giặc nội xâm tham nhũng này vô cùng phức tạp và gian nan vì nó không có phòng tuyến trận địa rõ rệt không nhìn thấy kẻ thù dễ dàng địch là ta ta là địch trong ta có địch trong địch có ta cứ lẫn lộn mờ mờ ảo ảo như thế. Vả lại muốn tham nhũng phải có mảng có bè có phái dây mơ rễ má lằng nhằng lắm cháu ơi. Ta nói cho vuông nhé Nước Nam mình dân mình muốn hết khổ muốn giàu mạnh lên phải tuyên chiến với nạn tham nhũng hối lộ này. Nói và làm phải đi đôi. Phải dần dà quét sạch quốc nạn này cháu ạ.

Tôi : Thưa Cụ cháu nghĩ là khó khó lắm. Đảng Nhà nước đã hô hào bao lần chống tham nhũng hối lộ nhưng xem ra kết quả dành được chưa là mấy. Vả lại có người lập luận rằng : làm cán bộ mà không tham nhũng thì lấy gì nuôi vợ nuôi con làm sao mà khá lên được. Vậy thì chẳng ai muốn làm cán bộ nữa.

Cụ Rùa : Cháu này làm người ai chẳng muốn giàu muốn sướng cho bản thân mình và gia đình mình. Nhưng phải biết trông xa trông gần. Trong khi dân tình còn vất vả cơ cực như thế mà mình cứ giàu nứt đố đổ vách ra nhờ đồng tiền bẩn thì nhìn sao đặng. Một xã hội mà mọi công việc mọi mối quan hệ đều phải dùng đồng tiền để bôi trơn và văn hóa phong bì như các cháu hay gọi đã trở thành chuyện thường ngày không cưỡng lại được là một xã hội hư hỏng đấy cháu ạ. Ta chỉ nên hưởng lợi từ những cái mình làm ra bằng mồ hôi trí óc của mình. Làm bao nhiêu hưởng bấy nhiêu. Tuy nhiên xã hội mà nói cụ thể Nhà nước phải trả công xứng đáng cho cán bộ để họ đủ nuôi sống gia đình.

Tôi : Theo ý Cụ là với « quốc nạn » tham nhũng ta không nhân nhượng thoái lui. Phải tấn công đến cùng. Và Nhà nước phải có cơ chế quản lý phù hợp tiến bộ.

Cụ Rùa : Ta chưa qua lớp cao cấp lý luận chính trị nào nên ta không rõ lắm khái niệm cơ chế cơ chiếc như cháu nói. Ta chỉ nói thế này : Luật Nước phải nghiêm. Nghiêm mới trừng trị được lũ tham quan. Và chống tham nhũng phải chống từ trên xuống như quét cầu thang vậy. Trên u ám mờ đục rác rưởi thì chớ mong dưới trong sáng tỏ tường quang quẽ. Muốn làm được việc này trước hết phải xây dựng được một đội ngũ quan à..à...cán bộ thực sự  có đức có tài. Nói như Hồ Chí Minh tiên sinh thì đó phải là những công bộc trung thành và tận tụy của dân. Theo ta đây cũng là việc khó. Nghe nói song song với nạn tham ô hối lộ nạn chạy chức chạy quyền cũng ghê gớm lắm phải không ?

Tôi : Dạ thưa Cụ hình như thế.

Cụ Rùa : Không được ! Ta đã từng nghe ai nói thế này hình như là Ngài Khổng Tử bên Nước Tàu thì phải : Đề cử người ngay thẳng lên trên hạng người cong queo thì dân phục. Đề cử người cong queo lên trên người ngay thẳng thì dân không phục. Phải nên xem dân là Trời dân là to nhất. Trời không có mắt có tai dân nhìn tức là Trời nhìn dân nghe tức là Trời nghe. Đừng bịt mắt dân đừng che tai dân. Sòng phẳng công khai trung thực dân sẽ tin sẽ yêu sẽ theo sẽ ủng hộ đến cùng. Nếu ngược lại thì vô cùng nguy hại.

Tôi : Vâng cháu hiểu. Điều này thì chúng cháu đã được giáo dục nhiều. Chính quyền của ta là « của dân do dân vì dân » ạ.

Cụ Rùa : Này cháu nghe ta đây. « Nói hay cày dở » là mất lòng tin lắm đấy nhé. Nói phải đi đôi với làm. Nói một làm mười dân mới tin dân mới phục. Ta thấy nhiều ông quan...khi giải trình trước Quốc hội thì hứa rất hay rất hùng hồn nhưng rồi khuyết điểm yếu kém vẫn đâu lại vào đấy. Thế mà các quan ấy vẫn tại vị bình thường vẫn chẳng bị kỷ luật gì cả. Lạ thật. Quản lý xã hội quản lý kinh tế yếu kém hàng nghìn tỉ tiền công bị đổ xuống sông xuống biển như cái vụ Vinasin gì đấy mà có mấy người bị kỷ luật đâu. Theo ta ít nhất thì những người có liên đới về trách nhiệm quản lý và tài chính phải bị khiển trách chứ không thể chỉ phê bình rút kinh nghiệm được. Phê bình là một việc làm thường xuyên trong Đảng trong chính quyền chứ không phải hình thức kỷ luật.

Tôi : Cụ nói Cụ chưa qua lớp lý luận cao cấp chính trị nào mà nói cứ đúng như trong sách bọn cháu từng học.

Cụ Rùa : Thì cũng cho ta « hoành tráng » một chút chứ. Mà này hình như ta cũng bị lây cái thói cao giọng hùng hồn của cán bộ Nước Nam mình rồi hay sao đấy. Toàn thích nói những điều to tát cao vợi mà quên thủ thỉ dặn dò những cái bé nhỏ nhưng rất cần thiết cho cuộc sống.

Tôi : Cụ ơi thế cụ có quan tâm đến chuyện văn chương không ạ ?

Cụ Rùa : Văn chương à ? Ta cũng biết chút xíu. Ta cũng biết Nước Nam mình có bài thơ « Nam quốc sơn hà » của Ngài Lý Thường Kiệt « Hịch tướng sĩ » của Ngài Trần Hưng Đạo « Đại cáo Bình Ngô » của Ngài Nguyễn Trãi « Truyện Kiều » của thi hào Nguyễn Du...Đó là những áng hùng văn của dân tộc gắn liền với những cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm phương Bắc và là tuyệt tác nói về thân phận con người ở Nước Nam mình...

Tôi : Con cháu bây giờ có người vẫn viết về các nhân vật lịch sử đấy Cụ ạ !

Cụ Rùa : Điều ấy ta có nghe nói. Nhưng mà sao ?

Tôi : Thưa Cụ. Các nhà văn khi viết về một số nhân vật lịch sử như Hồ Quý Ly Quang Trung Lê Lợi Nguyễn Trãi Nguyễn Ánh...có hư cấu ít nhiều và đã gây nên những tranh cãi. Nhất là những trường hợp các nhân vật lịch sử bị nhìn nhận dưới góc độ con người có những mặt xấu tiêu cực.

Cụ Rùa : Ái chà. Ta nghĩ : nhà văn nào khi viết mà chẳng hư cấu bịa đặt. Các anh từng định nghĩa tiểu thuyết là bịa như thật cơ mà. Nhưng tôi nói nhé các anh nên ngẫm nghĩ kỹ càng sâu sắc về chữ « thật » ở đây. Thật không phải là đánh tráo khái niệm đánh tráo bản chất không phải lấy bóng tối phủ lên ánh sáng lấy phi nghĩa lấp lên chính nghĩa biến thù thành bạn biến bạn thành thù.Ý ta là thế. Cũng hư cấu nhưng tại sao tiểu thuyết Hồ Quý Ly lại hay và nhận được sự đồng thuận cao đến vậy còn những truyện khác thì có người chê kẻ khen. Ta nghĩ rằng hư cấu không có nghĩa là viết về Hùng Vương như một vị tù trưởng « mông muội độc đoán » hay các nhân vật lịch sử khác xưa và nay mà dân Việt mình tôn thờ cũng phải đầy những tì vết mới là nhân văn. Nhân văn ở đây là đồng thuận với sự tôn kính của dân tộc là làm đẹp dân tộc lên. Không ai phỉ báng tổ tiên ông bà cha mẹ dù dưới góc độ con người khi sống họ cũng khuyết điểm đầy mình. Một ông vua mê người đẹp có gì là lạ một vị tướng yêu con gái của đất nước mình xâm lược cũng chẳng mới . Cái chính nhà văn các anh có hư cấu trời đất gì cũng phải biết tôn trọng cốt lõi lịch sử và phải đặt câu hỏi vì sao nhân dân ta lại kính yêu người đó trước khi gõ vào bàn phím. Ta không nói xa xôi nữa trong mỗi dòng họ có một nhà thờ trong mỗi gia đình có một ban thờ ; không thể mượn bất cứ lý do gì để làm uế tạp lem luốc nó cả. Không được xả rác nhổ bậy thậm chí nói năng tục tĩu bỗ bã ở những nơi chốn ấy. Con người nghĩ ra thần tích huyền thoại là có lý do cả đấy. Đã là cái để thờ thì phải biết gìn giữ coi sóc cẩn trọng. Tổ quốc dân tộc tôn vinh và thờ tự các anh hùng cứu nước các danh nhân... xưa nay. Đó là những giá trị thiêng liêng rất thiêng liêng nếu có viết về họ cũng phải cẩn trọng đúng mực nếu không sẽ tạo ra những tiền lệ lợi bất cập hại.

Tôi : Vâng cháu xin ghi lòng tạc dạ những khuyên bảo của Cụ. Chúc Cụ điều trị bệnh chóng khỏi. Sự khỏe mạnh của Cụ mang lại niềm vui lớn cho dân mình đấy Cụ ạ.

Cụ Rùa : Ta biết ta biết. Nhưng cũng chớ lo cho ta quá. Nếu đến lúc nào đó theo quy luật “sinh lão bệnh tử” ta không có mặt trên đời này nữa thì ánh hào quang của lịch sử vẫn chẳng bao giờ mất đi trên mặt nước Hồ Gươm và trên suốt dải đất Nước Nam này.

Tôi: Ôi Cụ nói hay quá. Cứ như là nhà văn nhà thơ vậy.

Cụ Rùa: Đừng khen ta thế. Nhưng biết đâu sau cái vụ chữa bệnh mấy nghìn năm mới có một này ta sẽ hứng lên viết hồi ký…

Tôi (sững sờ): Dạ thưa Cụ chúng cháu mong Cụ viết hồi ký lắm ạ. Mấy thế kỷ là nhân chứng của những thăng trầm lịch sử dân tộc cháu tin hồi ký của Cụ sẽ rất hay. Dạ cháu cảm ơn Cụ và xin phép Cụ cháu về.

Thanh Khê

(Thực hiện)

alt

 

More...

Những nẻo đường Đất Nước: Ba Vì Núi Tổ linh thiêng

By Sinh ở cuối dòng sông

BA VÌ NÚI TỔ LINH THIÊNG

Nguyễn Hữu Quý

Nhắc đến xứ Đoài người ta không thể không nói tới núi Ba Vì. Nhất cao là núi Ba Vì / Thứ ba Tam Đảo thứ nhì Độc Tôn. Thực ra so với Tam Đảo cao 1581 mét thì Ba Vì vẫn còn thấp hơn gần ba trăm mét. Nhưng Ba Vì vẫn được xem là “cao nhất” bởi trong tâm thức tâm linh của người xưa đây là nơi ngự của Thánh Tản Viên – Sơn Tinh vị Thần tối linh trong “Tứ bất tử” của tín ngưỡng dân gian Việt Nam. Là người Việt chắc ít ai không biết câu chuyện thần thoại kể về cuộc đọ sức lở đất nghiêng trời của Sơn Tinh với Thủy Tinh. Sơn Tinh đã phải dùng phép thuật nâng cao núi để ngăn lũ dữ trong cơn cuồng ghen của Thủy Tinh vị thần nước si tình bậc nhất vì không lấy được con gái Hùng Vương. Ba Vì “cao nhất” vì lẽ đó nói như Nguyễn Trãi thì Núi ấy là núi Tổ của nước ta (Dư địa chí).

Năm Bính Thân 1836 vua Minh Mạng đã cho đúc Cửu đỉnh làm biểu tượng cho uy thế và sự vững bền của Nhà Nguyễn. Trên Thuần đỉnh (cao 2 32 mét nặng 1950 cân) Minh Mạng cho chạm khắc hình núi Tản Viên vào cùng với hình cửa Cần Giờ và sông Thạch Hãn. Năm Canh Tuất 1850 ông vua thi sĩ Tự Đức xếp Tản Viên vào hàng danh sơn của đất Việt và được ghi vào Tự điển để cúng tế hàng năm. Tản Viên sơn trong mắt của người láng giềng phương Bắc là chiếc đầu Rồng hùng vĩ còn thân của linh vật này không gì khác chính là dãy Trường Sơn trùng điệp chạy dài từ Bắc về Nam. Chuyện xưa còn truyền lại hôm nay rằng: để chế hãm nước Nam không phát được Vương vua Nhà Đường đã cử vị tướng kiêm phù thủy Cao Biền dùng thuật pháp đào trăm giếng bao quanh chân núi Ba Vì hòng trấn yểm và triệt diệt long mạch nước ta. Nhưng vì oai linh của Thánh Tản Viên nên mưu xấu của người phương Bắc không thành giếng nào đào sắp xong cũng đều bị sập. Việt Nam thời nào cũng có hiền tài văn hiến vững bền muôn thuở.

Núi Tổ Ba Vì có Châu hình đẩu tiễn thiên hoành không / Hạo khí quan mang vạn cổ tồn ( Dáng hình sừng sững ngang trời rộng / Hạo khí mênh mang vạn thuở còn) như đôi câu đối ở Đền Và nơi thờ Thánh Tản Viên. Cảnh vật chốn này vừa hùng vĩ vừa bao la vừa thơ mộng. Hùng vĩ bởi Ba Vì sừng sững làm trấn sơn cho cả nước. Bao la bởi vùng đồng bằng mỡ màu điểm xuyết những gò đồi thấp thoải. Thơ mộng bởi những dòng sông con suối rừng cây làng mạc êm ả vây quanh. Nhiều danh lam thắng cảnh quây tụ về đây như Ao Vua Khoang Xanh – Suối Tiên Thác mơ Thác Đa Thác Ngà Thác Hương núi Đá Chẹ rừng thông Đá Chông hồ Suối Hai hồ Đồng Mô hồ Tiên Sa đồi cò Ngọc Nhị…Đường lên núi Tản quanh quanh đỉnh non cây cối bảng lảng trong mây vờn sương phủ thật huyền ảo.

Du khách đến Ba Vì trong một hành trình du lịch thắng cảnh văn hóa tâm linh nhiều thú vị. Khí hậu núi Ba Vì mát mẻ trong lành chẳng khác mấy Đà Lạt Sa Pa rất phù hợp với việc nghĩ dưỡng leo núi đi bộ. Không gian tĩnh mịch êm đềm tạo cho ta những khoảng lặng đáng yêu trong cuộc sống vốn rất nhiều ồn ả xô bồ như hiện nay. Ta có thể tận mắt thấy hàng chục loài cây quý hiếm đang có mặt ở Ba Vì như bách xanh thông tre sến mật giổi lá bạc bát giác liên hoa tiên râu hùm sam bông ba gạc…Sườn Tây núi Tản Viên còn sót lại hàng chục cây bách xanh cổ thụ có độ tuổi hàng thiên niên kỷ.

Đứng trên vời vợi Ba Vì ta thêm dịp ngẫm nghĩ về vị thế non sông về những huyền tích dựng nước giữ nước của dân tộc trong suốt mấy nghìn năm lịch sử thăng trầm dâu bể. Trên và quanh Ba Vì xưa cổ có rất nhiều đền đình linh thiêng như các Đền Trung Đền Hạ Đền Thượng Đền Đá Đen Đền Và Đền Măng Sơn Đền Khánh Xuân Đền Vật Lại đình Yên Nội đình Tây Đằng đình Mỗ Lao đình Quất Động đình Đông Viên đình Quang Húc đình Phú Thứ đình Thanh Hùng đình Thụy Phiêu…thờ Thánh Tản Viên .Đền thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng là một nơi linh thiêng được nhiều người đến viếng thăm hương khói. Ngôi đền thờ Bác do kiến trúc sư nổi tiếng Nguyễn Trực Luyện thiết kế mang phong cách cổ hai tầng tám mái đao cong nhìn về hướng Nam nằm ở độ cao 1296 mét tại đỉnh Vua.

Gắn liền với tên tuổi công tích của Thánh Tản Viên – Sơn Tinh núi Ba Vì thật xứng danh là núi Tổ của Đất Việt. Con cháu muôn đời về đây nơi Ba Vì cao ngất tầng mây để tưởng vọng tới Tản Viên sơn thần / Đệ nhất phúc đẳng thần / Đệ nhất bách thần / Thượng đẳng tối linh thần / Nam thiên thánh tổ vốn là vị anh hùng dân tộc có công chống thiên tai chống giặc ngoại xâm khai sáng văn hóa liên kết các bộ tộc Việt – Mường của non sông Việt Nam.

alt

Thác Dải Yếm

Ảnh st trên NET

 

 

More...

Cụ Rùa và lũ tai đỏ

By Sinh ở cuối dòng sông

CỤ RÙA VÀ LŨ TAI ĐỎ

Tản văn Nguyễn Hữu Quý

Nghe tin Cụ Rùa Hồ Gươm đã được đưa vào bệnh viện thông minh để chữa trị nhiều người dân hỉ hả vui mừng. Tôi cũng thế không có điều kiện ra Bờ Hồ xem trực tiếp cảnh đưa Cụ vào nơi điều trị nhưng đọc trên mạng biết tin cũng thở phào nhẹ nhõm. Có điều gì đó không nói ra hết không giải bày đầy đủ được về tình cảm của chúng ta đối với Cụ. Dù như ai đó đã viết trên một tờ báo mạng nổi tiếng đại ý rằng: rùa Hồ Gươm cũng chỉ là một sinh vật thôi cũng sinh lão bệnh tử như mọi sinh vật khác vì thế chuyện ốm yếu của nên xem bình thường. Đúng rất đúng nếu nhìn bằng con mắt duy vật nhưng ngẫm kỹ thì chưa phải nếu không muốn nói là hồ đồ thô thiển.

Này nhé đứng trước tượng đài một vị anh hùng hay danh nhân của dân tộc không ai nghĩ rằng mình đang đứng trước một vật vô tri vô hồn vô nghĩa cả. Ít ai ngạo mạn nghĩ rằng: có gì đâu đó cũng chỉ là khối bê tông hay kim loại đúc nên mà thôi. Sau tượng đài Phù Đổng Thiên Vương là cả một truyền thuyết cảm động hào hùng về Thánh Gióng và người mẹ chân đất áo vá cấy lúa trồng cà nuôi con đánh giặc cứu nước. Sau tượng đài Trần Hưng Đạo là âm vang Hịch tướng sỹ từ thế kỷ 13 với những lần chiến thắng giặc Nguyên Mông hung bạo. Cũng thế ngắm tượng đài Nguyễn Trãi ta không thể quên Bình Ngô đại cáo của Người cũng như ngậm ngùi xót xa nghĩ tới oan án Lệ Chi Viên hơn sáu trăm năm về trước. Tượng Nguyễn Du đấy là hồn vía của một đại thi hào viết nên Truyện Kiều bất tử từ những điều trông thấy mà đau đớn lòng của nhân gian của những kiếp phận long đong chứ đâu chỉ là khối bê tông đúc thành…Tám vệt mây trắng hiện trên bầu trời Đền Đô cũng gợi nhắc tới cuộc vân du của tám vị Vua thời Lý lừng lẫy. Một cánh bướm đậu lên trên bàn thờ Tổ tiên đúng ngày giỗ trọng cũng làm cho ta run rẩy nghĩ tới bao điều. Biết đâu đấy là sự hiển linh của người đã khuất. Ẩn sâu trong cảm xúc ấy là tâm linh những điều khó giải thích được tới ngọn ngành thấu triệt bằng kiến thức đương đại. Mà cũng đừng lý giải làm gì đó là phần sâu nhất khuất nhất và cũng kỳ diệu nhất của con người của thế giới này.

Cụ Rùa dân Việt gọi như vậy cảm nhận như vậy tôn vinh như vậy bởi “sinh vật” ấy gắn liền với câu chuyện mượn - trả kiếm của người anh hùng Lê Lợi với Thần Kim Quy. Không phải ngẫu nhiên mà Hồ Gươm được coi là nơi hội tụ khí thiêng của nghìn năm Thăng Long – Hà Nội của dải non sông mang dáng Rồng bay này. Gọi Cụ Rùa chính là  tôn vinh truyền thống yêu nước ý chí quật cường của dân tộc đã từng nếm mật năm gai hòa nước sông chén rượu ngọt ngào tướng sĩ một lòng phụ tử để đánh tan giặc xâm lăng. Đó chính là bóng dáng của lịch sử còn lưu lại hôm nay thực ảo quyện hòa nhau trong tâm thức dân tộc đồng bào.

Có thể sau này Cụ Rùa không còn nữa nhưng ánh hào quang lịch sử ấy vẫn thấp thoáng Hồ Gươm như sự linh thiêng không bao giờ tắt lịm. Một linh vật gắn bó với Hồ Hoàn Kiếm hằng mấy thế kỷ như vậy đã vượt qua khái niệm một thực thể bình thường rồi. Hiện tại và mai sau đó vẫn là sự thiêng liêng mà dân tộc Việt này tôn vinh kính trọng. Nhân dân ta nhìn Cụ bằng tấm lòng bằng trái tim chứ không phải là bằng đôi mắt trần trụi bằng bộ óc sặc chữ.

Bao nhiêu người lo lắng khi Cụ ốm. Không thể không đau xót khi thấy Cụ chìm nổi ngoi ngóp trong lòng hồ bị ô nhiễm mai móng bị tấy đỏ bấy bớt do nước bẩn và bị lũ rùa tai đỏ gặm nhấm. Lũ rùa tai đỏ là sinh vật ô tạp tham lam phàm ăn tục uống. Nó đáng bị lên án bị xử lý bị trừng trị đích đáng như những tên phá hoại xâm lăng. Lũ tai đỏ đã len lách mọi nơi trên đất nước này và chúng đã có mặt ở Hồ Gươm lặng lẽ tấn công gặm mòn linh vật của ta. Chao ôi chuyện hôm nay chuyện của thế kỷ 21 mà cứ như là chuyện ngày xửa ngày xưa thuở Cổ Loa thành vừa mới được dựng lên chưa khô bùn đất. Cái thời Mỵ Châu còn mười tám xuân xanh ấy ấy…Những nẻo xa vời trắng màu lông ngỗng trắng nỗi bi thương vết chém ai oán còn rưng rức thiên thu.

Nhìn cái thứ sinh vật ngoại lai này tràn ngập muôn nơi và bơi lội trong Hồ Gươm lòng ai chẳng trỗi lên một điều gì đấy vừa mơ hồ vừa rõ rệt về sự chẳng lành của cuộc sống hôm nay. Sự ô uế đang lan ra? Khí vận suy vi cạn kiệt? Lòng người phân rẽ ly tán? Trách kẻ mông muội “rước” cái lũ tai đỏ về đất Việt mình về Hồ Gươm mà không tính được lợi hại trước sau. Trước đây đã khốn khổ vì bè lũ ốc bươu vàng nay lại mệt mỏi vì bầy rùa tai đỏ. Hết ốc đến rùa hết vàng đến đỏ lũ tàn sát bức tử môi trường được du nhập vào nước ta bằng con đường nào bởi những kẻ nào hình như chưa ai chỉ rõ. Chỉ biết bây giờ ta phải hứng chịu tai họa khôn lường.

May mà ta phát hiện kịp để còn nghĩ cách trừng trị loại bỏ cái lũ sinh vật xâm lăng vô cùng nham hiểm này.

Những vết thương vì lũ tai đỏ gặm cắn trên mai trên móng Cụ Rùa chính là một cảnh báo kịp thời cho chúng ta đó. Chịu đựng đớn đau Cụ đã báo động cho ta biết sự nguy hại của lòng tham mang tên rùa tai đỏ. Hãy cảnh giác. Đừng u mê nữa. Có những mối nguy đang rình rập kề bên chúng ta.

Tôi tin Cụ Rùa sẽ thoát bệnh Hồ Gươm trở lại trong lành. Khí vận vằng vặc dạt dào. Nước thịnh. Dân an. Lũ tai đỏ chỉ còn là câu chuyện cổ tích của dân chúng rằng: những năm đầu thế kỷ 21 ở Hồ Gươm có một loài vật tặc…định “chén” Cụ Rùa…nhưng…cuối cùng bị tiêu diệt sạch sành sanh…

                                                                                                                                Đồng Xa ngày 4/4/2011

alt

Hà Nội Đền Ngọc Sơn thời xưa cổ

Ảnh st trên NET

More...

Trường Sa Hoàng Sa trong trái tim ta: Từ ký ức tháng Tư...

By Sinh ở cuối dòng sông

TỪ KÝ ỨC THÁNG TƯ

ĐẾN “TỔ QUỐC ĐƯỜNG CHÂN TRỜI”

Nguyễn Hữu Quý

 

Trường ca Tổ quốc Đường chân trời của nhà thơ Nguyễn Trọng Văn ra mắt bạn đọc cuối năm 2010. (NXB Hội Nhà văn)

Khái niệm Tổ quốc hôm nay không chỉ bó hẹp trong dải đất liền cong cong hình chữ S và những vùng biển hòn đảo gần bờ nữa. Đất nước mở ra tận đường chân trời với những địa danh rất cụ thể: Trường Sa và Hoàng Sa. Những vùng biển mênh mông những hòn đảo từng hoang vu in dấu chân người Việt hàng trăm năm nay rồi. Lịch sử đã chứng minh điều đó bằng những cột mốc văn bản hiện vật còn lưu lại rành rành. Cuộc chiến đấu giải phóng Trường Sa tháng 4 năm 1975 của quân và dân ta đã được ghi dấu trong lịch sử đất nước và hồi ức của những người lính trận. Những Binh hùng thời đại Hồ Chí Minh đã tiếp nối khí phách bản lĩnh những Hùng binh thời xa xưa trong công cuộc dựng nước và giữ nước nhiều gian khổ hy sinh. Ký ức tháng Tư hào hùng ấy đã được Nguyễn Trọng Văn dựng lại như một “điểm nhấn” quan trọng trong trường ca Tổ quốc Đường chân trời. Hành trình vượt biển cả để giải phóng Trường Sa được phác họa khá cụ thể sinh động: Có một ngày/ Khấp khởi tháng Tư/ Quân cảng vừa tiếp thu bộn bề sau giải phóng/ Đoàn trưởng Mai Năng bất ngờ nhận lệnh:/ Đưa đội hình / Bí mật/ Hướng Trường Sa. Những chiến sĩ đặc công nước nén mình trong những khoang hầm… lau lại súng lau giọt mồ hôi cho khỏi vướng tầm nhìn. Và họ vọt lên như những chiến binh mọc lên từ biển. Cũng như những người lính bảo vệ quần đảo hôm nay chiến sĩ ta trong tháng Tư lịch sử ấy cũng là Những chàng trai tuổi mười tám đôi mươi/ Đi đánh đảo/ Lần đầu ra đánh đảo. Đánh dấu chủ quyền Tổ quốc trên Trường Sa ngày ấy là Mũ Hải quân/ Treo đầu lưỡi lê làm cột mốc giữa Biển xanh tan bóng giặc…Đấy chính là một trong những dấu mốc thiêng liêng của lịch sử: Tổ quốc có Trường Sa nơi trái tim hồng.

Có thể nói từ cảm hứng lịch sử xa xưa và hồi ức tháng Tư mùa xuân đại thắng 1975 với những yêu thương và tin tưởng sâu sắc Nguyễn Trọng Văn đã phác họa lên hình tượng: Tổ quốc căng như một cánh buồm / Thẳng hướng ra khơi / Đất nước ta là chuyến đi dài / Mấy ngàn năm không nghỉ…

Đấy là một khái quát đẹp tràn ngập cảm xúc yêu dấu và tự hào đủ cho ta có một hình dung về tâm thế vị thế của Tổ quốc hôm nay. Thế kỷ 21 dân tộc tiếp bước ông cha vươn ra biển lớn. Tuy vậy Nguyễn Trọng Văn không sa đà vào những hình ảnh to lớn trừu tượng như thế mà anh muốn chúng ta thấy một Tổ quốc gần gũi cụ thể hơn; một Tổ quốc đang đương đầu với nhiều thách thức cam go và trong giông bão dữ dội vẫn sinh tồn sức sống Việt Nam.

Đây là những hình ảnh bình dị chân thật lay động lòng người: Đường chân trời một vệt sáng Trường Sa. / Năm giờ ba mươi! / Ai đó liếc đồng hồ / Ai đó khẽ lấy tay vội chùi khóe mắt. / Ai đó đứng thẳng mình chỉnh trang trang phục. / Ai đó cùng tôi đổ sang trái mạn tàu. / Biển nghiêng mình chào những cánh hải âu. Tổ quốc hiện hiển giữa biển Đông bao la trập trùng sóng trập trùng mây. Tôi đã từng đi Trường Sa sau hai ngày hai đêm lênh đênh trên biển thức dậy giữa bình minh chói lòa thấy trước mắt mình vệt đảo xanh xanh có chấm cờ đỏ nhô cao đã không cầm nổi nước mắt. Đó chính là tình yêu Tổ quốc thẳm sâu trong mỗi chúng ta. Nó được cất lên bằng những lời giản dị nhất chẳng chút hoa mỹ véo von.

Khi bước trên nền san hô đảo ta sẽ thấy gần hơn: Hình Tổ quốc tung bay không biết mệt. / Lồng lộng trời / Lộng lộng gió Đại dương. Tổ quốc hóa thân vào ngọn Quốc kỳ tung bay giữa biển cả trên đảoTrường Sa. Tổ quốc hóa thân vào từng người lính biển: Những người lính nguyện thân làm “Cột mốc”. / Họ băng qua những ngày biển động. / Gạt sương mù đón ánh mai lên. / Tia nắng mặt trời. / Mọc ở trái tim. / Mọc ở nơi biết mình đang sống. / Mặt trời mọc trên từng ngọn sóng. / Mọc trên từng tấc đảo Trường Sa. Từng tấc đảo Trường Sa ấy chính là Tổ quốc nơi còn truyền lưu cái nguyên lý giữ nước mộc mạc dân giã của ông cha: Rào nhà cho chặt / Đẩy rình mò ra mãi khơi xa.

Từ hiện thực cuộc sống từ những câu chuyện anh nghe được trong chuyến đi Trường Sa đặt trong mối liên hệ rộng lớn với quê hương đất nước nhà thơ đã dựng lên chân dung người lính Trường Sa thật “nét”. Cuộc sống đời thường của người lính được chọn lọc đưa vào thơ dung dị và cảm động: Uống một ngụm tí thôi đỡ khát. / Nhớ để dành chăm mấy “hộp rau”. Họ như Hoa muống biển thơm ngát về đêm. Hồn nhiên lặng lẽ Cần mẫn nép mình dưới bóng trời xanh. Người lính thời bình cũng nhiều gian khổ hi sinh lắm. Họ hi sinh vì giông bão hi sinh vì ốm đau hi sinh vì chiến đấu với những thế lực xâm lấn lãnh hải ta. Nơi anh nằm chân quay phía đất liền. / Như anh đã một phần về với Mẹ. Lời của người lính biển hi sinh như vọng lên từ trái tim Đất nước: Con nằm đây giữa cát bỏng / Trường Sa / Bên bờ sóng vỗ / Đã sắp Mười năm / Sẽ lại Mười năm nữa /…Mười năm nữa…/-Tuổi Hai mươi sáu con như cánh buồm neo bến đậu / Chờ buổi tốt trời dóng hướng ra khơi.

Có người lính tuổi đời dừng lại ở Thế kỷ 20…/ Có người vợ hiền /Và đứa con mới sinh chưa kịp nhìn mặt Bố. Sự hi sinh tang tóc đau xót vô cùng nhưng không hề vô nghĩa khi Những người hòa thân với Đại dương cho “Bãi cạn” Chồi lên…và những “Đảo chìm” / Một sớm nổi lên / Thành Đảo nổi. Và đây một hình ảnh cụ thể có thật về người chiến sĩ hải quân trụ lại ở Nhà Giàn trong bão tố: Quấn chặt lá cờ / Vào sát ngực mình / Bên phía trái tim…/Đại úy Vũ Quang Chương / Gồng mình / Hít hơi thở cuối / Anh mỉm cười thấy đồng đội đã xuống tàu cứu hộ an toàn./ Anh mỉm cười…Một con sóng chồm lên / Cờ Tổ quốc còn nguyên bên ngực.

Tổ quốc trong trường ca của Nguyễn Trọng Văn là Tổ quốc phía Trường Sa Tổ quốc nơi Đường chân trời. Đường chân trời mang ý nghĩa rộng lớn và những dự cảm tốt đẹp sán lạn về tương lai dân tộc. Phía đường chân trời là biển đảo thân yêu của Tổ quốc những “hòn máu giang sơn Việt” mang tên Trường Sa Hoàng Sa hiện lên thiêng liêng khôn xiết. 9 chương trong trường ca Tổ quốc Đường chân trời là 9 lát cắt nóng hổi về lịch sử và hiện thực cuộc sống của nhiều thế hệ người lính trong sự nghiệp bảo vệ bờ cõi thân yêu. Dòng cảm xúc tuôn chảy ào ạt suốt dọc bản trường ca và những chi tiết cuộc sống chân thật mang lại cho người đọc sự tin cậy sâu sắc. Cuộc sống và sự hi sinh của người lính đã là thơ là trường ca; những đắp điếm tô điểm về họ không cần thiết. Nguyễn Trọng Văn khai triển trường ca của mình theo hướng đó. Ở trường ca này cái mới nằm trong chính nội dung trong những phát hiện hôi hổi từ cuộc sống bộn bề xoáy xiết chứ không phải trong cấu trúc ngôn từ. Tổ quốc Đường chân trời góp vào dòng trường ca Việt một hình tượng Đất nước mới: Tổ quốc mình ở phía Trường Sa.

alt

Một thời và mãi mãi

Ảnh St trên NET

                                            

                       

 

More...

Quán thơ ở cuối dòng sông: "Đám cưới một linh hồn"

By Sinh ở cuối dòng sông

ĐÁM CƯỚI MỘT LINH HỒN

 

Người chiến binh để lại một chân trên Cánh đồng Chó Ngáp

Nửa đời bôn ba chắp nối một lời nguyền

Gặp lại người yêu giữa Trường Sơn ngàn bia mộ

Lời hẹn ba mươi năm

Giờ hóa cỏ xanh rờn.

 

Anh đã ngoại ngũ tuần

Người yêu anh vẫn trẻ

Anh cưới em

Anh cưới một linh hồn

Bông huệ trắng thơm tím chiều hoang vắng

Ly rượu buồn anh tưới đẫm hoàng hôn.

 

Giờ thì em đã vu quy

Em đã vu quy

Như lời xưa hai đứa mình hẹn ước

Mà bên anh hư ảo một hình hài

Trời xanh ngắt

Mây giăng tà áo cưới

Dấu chân tròn...lá rừng xanh mắt ai !

                         Vũ Bình Lục

Lời bình của Nguyễn Hữu Quý

Đó là câu chuyện là số phận của hai người lính (một nam một nữ) trong và sau chiến tranh chống Mỹ khốc liệt. Người sống là nam chiến binh để lại một chân trên Cánh đồng Chó Ngáp. Người chết là nữ chiến sỹ từng có mặt ở Trường Sơn trong những tháng năm bom đạn. Họ từng yêu nhau tha thiết và sau cuộc chiến người con trai Gặp lại người yêu giữa Trường Sơn ngàn bia mộ/ Lời hẹn ba mươi năm/ Giờ hóa cỏ xanh rờn. Và điều bất ngờ nhất là hai người lính đã cưới nhau một cuộc hôn nhân hy hữu nhưng rất cảm động giữa người sống với người chết.

Câu chuyện có thực ấy bước vào thơ Vũ Bình Lục với một cái tứ lạ: Đám cưới một linh hồn. Chính nhờ cái tứ độc đáo này mà câu chuyện về số phận hai người lính khi vào thơ đã mang chiều sâu nhân bản và tầm khái quát cao. Cái phi lý đã biến thành có lý; cuộc hôn nhân kỳ lạ này chứng minh : tình yêu đích thực không bao giờ bị mất.

Trước hết đó là nỗi ám ảnh về cuộc chiến tranh đã qua. Nỗi ám ảnh về sự mất mát hy sinh của một thế hệ trẻ trung hồn nhiên và dũng cảm vào trận vì độc lập tự do của đất nước. Sau cuộc chiến người mất người tàn phế. Người chiến binh ấy chỉ là một trong hàng vạn thương binh và người yêu của anh cũng chỉ là một trong hàng vạn cô gái nằm lại giữa Trường Sơn ngàn bia mộ. Ám ảnh về một nguyện thề đôi lứa cách đây ba mươi năm nên người con trai mới Nửa đời bôn ba chắp nối một lời nguyền.

Đó cũng là lòng thủy chung vô song và sức sống mãnh liệt của tình yêu. Lời hẹn của cô gái Giờ hóa cỏ xanh rờn. Ở đây cỏ đã trở thành biểu tượng của thủy chung sự tồn tại của tình yêu bền vững. Cỏ vừa là hiện tại vừa là dĩ vãng từ màu xanh ấy bật dậy những kỷ niệm hồi ức của một thời và nó không hề đổi thay phai nhạt. Từ tâm tưởng thương nhớ xót đau của người cựu binh đã ngoại ngũ tuần cô gái Người yêu anh vẫn trẻ. Chỉ có người sống mới già đi bởi thời gian trôi nhanh quá còn với người đã khuất thì năm tháng có nghĩa lý gì đâu. Cô gái của anh vẫn trẻ như hồi ra đi trên đại ngàn Trường Sơn tơi bời bom đạn. Đấy là cái trẻ vĩnh hằng cái đẹp vĩnh hằng trong ánh sáng bi lãng của tình yêu nồng nàn bất tử.

Anh cưới em. Chỉ cần thế là đủ cho sự vẹn tròn tình cảm đủ cho toại nguyện của người sống và người chết đủ cho Bông huệ trắng thơm tím chiều hoang vắng/ Ly rượu buồn anh tưới đẫm hoàng hôn. Sắc hương của bông huệ như là lễ vật dâng tặng của đất mẹ giữa chiều nghĩa trang Trường Sơn biền biệt tím. Màu tím hoang vu của sim mua hay màu tím thủy chung của tình yêu như ta từng tâm niệm đây ? Có lẽ cả hai. Và dù hôn lễ có buồn như ly rượu tưới đẫm hoàng hôn thì đám cưới này vẫn mang một tầm kích bao la của trời đất : Trời xanh ngắt/ Mây giăng tà áo cưới. Từ một đám cỏ mộ xanh rờn đến bầu trời xanh ngắt rõ ràng sự liên tưởng đã được mở ra từ nhỏ đến lớn từ hẹp đến rộng từ thấp lên cao. Một kết thúc hữu hậu đẹp đến nao lòng khi Em đã vu quy/ Như lời xưa hai đứa mình hẹn ước. Bây giờ thì họ đã bên nhau như Dấu chân tròn...lá rừng xanh mắt ai họ đã thành vợ thành chồng trong mang mang đất trời rừng núi.

Bài thơ này tôi đã đọc nó khi còn là bản thảo gửi đến cuộc thi thơ Văn nghệ quân đội năm 2004 và sau đó nó dành được giải Nhì. Nay đọc lại càng thấy thích hơn bởi cái tứ và những hình ảnh có trong bài thơ. Nhưng đọc kỹ tôi lại cho rằng hình như nó bị thừa ra câu : Anh cưới một linh hồn. Theo tôi chỉ cần viết :Anh cưới em là đã đủ. Đủ ý đủ tình và ý rộng lớn hơn. Cái ý cưới một linh hồn đã rõ (tên bài và các câu khác đã chỉ ra). Anh cưới em là cưới tất cả. Linh hồn em hình ảnh hư ảo của em cuộc sống quá khứ của em đều thuộc về anh thuộc về anh tất cả.

Tuy nhiên đấy chỉ là sáng tạo thêm của người đọc sau khi cảm nhận được phần nào cái hay của bài thơ. Dẫu vậy theo tôi Đám cưới một linh hồn vẫn là bài « đinh » của Vũ Bình Lục trong sáng tác từ trước đến nay và là một trong những tác phẩm viết về liệt sĩ thương binh xúc động.

alt

Nghĩa trang liệt sĩ quốc gia Trường Sơn

Ảnh st trên NET

 

More...

Sụp đổ...Sụp đổ...Hãy coi chừng!

By Sinh ở cuối dòng sông

Lăng kính của Tui:

SỤP ĐỔ...SỤP ĐỔ…HÃY COI CHỪNG

Thanh Khê

Không có độ Ríchter nào.

Không có đợt sóng thần nào.

Thế mà vẫn sụp đổ.

Tòa nhà 5 tầng sơn màu đỏ sẫm tọa lạc trên đường Huỳnh Thúc Kháng giữa Thủ đô Hà Nội nhộn nhịp và bụi bặm như một đại công trường tự nhiên lắc lư và sụp đổ. Ơn Trời may mà không có ai trong đó may mà cái nhà hàng ăn nhanh này chưa khai trương nếu không đất nước mình sẽ trắng thêm mấy chục vành khăn tang nữa.

Sau đôi ngày núi Lèn Cờ ở Nghệ An bị sụp đổ đè lấp hàng chục con người nghèo khổ đi làm thuê cho chủ mỏ đá mang danh giám đốc một công ty TNHH và trên chục thạch phu phải lìa đời bỏ lại nhiều khốn khó nheo nhóc trần gian.

Tai họa. Tai nạn. Những ngôn từ ấy chắc chắn sẽ được nhắc lại nhiều lần vô số lần khi người ta nói viết về vụ việc và cả trong các biên bản tường trình hồ sơ thụ lý của các cơ quan chức năng.

Sau những ngôn từ khô khốc vô cảm ấy là gì? Máu đổ xương tan thịt nát. Mạng sống của những dân đen bị cướp đi oan uổng. Tang tóc đổ xuống những gia đình khốn khó. Rồi con cái họ biết đâu sau tai họa này phải bỏ học đi làm thuê sớm thậm chí phải thất thểu đầu đường xó chợ ăn xin. Trước cảnh ngộ ấy dân lành chỉ biết ngửa mặt kêu trời và ngầm ngùi lý giải an ủi theo cái cách rất truyền thống là “do số phận cả”. Bắt phong trần phải phong trần/ Cho thanh cao mới được phần thanh cao như cụ Nguyễn Du từng chiêm nghiệm.

Nếu tất cả cứ đổ tại đấng cao xanh thì chắc không có chi phải lăn tăn trăn trở nữa. Và người ta cũng cứ thế làm ngơ trước thực trạng nói nhiều làm ít hoặc nói mà không làm như hiện nay. Rõ ràng rõ ràng như hai cộng hai bằng bốn là tai họa tai nạn kiểu này không phải ít ở nước ta trong mấy năm gần đây. Trong xây dựng thì nhà xây không phép xây sai phép nhà cơi nới sửa chữa vô tội vạ nhà siêu méo siêu mỏng siêu quái…không hiếm ở nhiều nơi mà Hà Nội là điển hình tiêu biểu. Mấy lần mỏ đá hầm đất đã sập vùi thây bao người. Rồi luôn đây cũng kể luôn các vụ ô tô đâm đầu vào tàu hỏa tàu hỏa húc bẹp dúm ô tô. Những vụ chìm đò ngang chìm tàu du lịch thấm đẫm nước mắt tang thương.

Mạng người chao ôi sao nó vẫn bị coi thường đến thế cứ bèo bọt rẻ rúng muôn phần. Người ta không thể không đặt câu hỏi về vai trò kiểm tra giám sát của những cơ quan cá nhân có trách nhiệm trong các vụ việc này. Công tác đảm bảo và kiểm tra an toàn lao động ra sao mà  để cho hàng chục người chui vào cái “bẫy” chết người của lèn đá như thế? Công tác cấp phép và giám sát xây dựng đô thị thế nào mà để cho sự cơi nới sửa chữa nhà cửa tùm lum như vậy. “Đội ngũ” nhà siêu méo siêu mỏng siêu quái ngày thêm đông đảo một phần do ai? Những lối đi cắt ngang đường sắt đã đủ biển báo chưa? Cần thiết phải dựng ở những “điểm đen” đó cái ba ri e có người gác tuy tốn kém nhưng lại bảo đảm an toàn cao không?

Những vụ mất an toàn ấy phải được xem xét nhìn nhận mổ xẻ dưới góc độ quản lý xã hội. Có như vậy thì người quản lý xây dựng quản lý lao động quản lý giao thông mới nêu cao trách nhiệm để làm việc đến nơi đến chốn. Hãy tự trách mình trước các vị ạ và phải thành tâm sửa chữa nếu không tai họa còn diễn ra nhiều nhiều nữa sự sụp đổ sẽ không dừng lại ở đó. Lối làm việc tắc trách của các vị sẽ làm cho những lỗ hổng xã hội càng lở lói rộng thêm và kết cục ra sao thì không nói ra chắc ai cũng biết. Nếu có lúc nào đó vì vị nể vì phong bì phong bao các vị bỏ qua lờ đi những sai phạm thì xin các vị hãy nhớ cho nó có thể gây ra tai họa đấy. Sụp đổ đôi khi bắt đầu từ những việc cho qua như thế. Tôi không nói quá đâu nhé. Nếu công tác quản lý xây dựng đô thị nghiêm túc thì làm sao cái nhà bị đổ ở Huỳnh Thúc Kháng ấy sau khi sửa chữa lại trên to hơn dưới? Nếu công tác an toàn lao động được quan tâm đúng mức thì người ta không điên mà cho hàng chục phu đá làm việc sát chân lèn sững sừng chênh vênh như vậy? Hao người tốn của đã nhãn tiền. Lòng dân ai oán bất tin mới là tai họa lớn nhất cho đất nước.

Nền móng vững thì công trình mới chắc. Cái nền móng luật pháp và đạo đức của ta có vẻ như còn rất yếu. Phải bồi đắp gia cố thêm nhiều nếu như muốn trụ vững dài lâu. 

alt

Rừng bị mất màu xanh

Ảnh st trên NET

More...

Chợt nhớ Nam Cao

By Sinh ở cuối dòng sông

Nguyễn Hữu Quý

CHỢT NHỚ NAM CAO

1

Cầm liềm đi gặt ruộng hoang

gặp trăng Thị Nở léo sang Chí Phèo

cái đêm sông hổn hển theo

yêu nhau chẳng để mốc meo cháo hành.

 

Bà Ba đùi trắng tóc xanh

nằm mơ “chiến trận tanh bành” đấy ư?

yếm đào nưng nẩy hình như

rung rinh ngọn lửa  bao thu vẫn còn!

 

Quên đi máu đổ cửa son

thấy ông Bá Kiến lom khom chào mình

Tớ chưa học hết chữ Tình

Hại người người hại phú vinh cũng thừa…

2

Bây giờ hay vẫn ngày xưa?

bao làng Vũ Đại nắng mưa gật gù

không anh Chí cũng vào tù

không ông Bá cũng ởm ừ gian manh

 

Ngược xuôi tàu suốt tàu nhanh

bà Ba ngày ấy biến thành cô Ba

Nở mình bồng bế oa oa

cái lò gạch cũ thành ra công trường.

 

Xóm làng lên phố lên phường

ngổn ngang thế sự ẩm ương ngày ngày

dẫu rằng vườn chuối lắt lay

còn nguyên thiện ác dở hay con người!

alt

alt

alt

More...

Bỗng nhiên Hà Nội

By Sinh ở cuối dòng sông

Nguyễn Hữu Quý

BỖNG NHIÊN HÀ NỘI…

 

Bỗng nhiên Hà Nội Hồ Gươm

Cụ Rùa thoát bệnh tinh tươm quần thần

Ngọc Sơn em khấn rì rầm

khói hương nghìn tuổi một lần…bỗng nhiên

 

Bỗng nhiên Hà Nội nhớ quên

lộc vừng ngúng nguẩy bắt đền cây mưng

phượng bằng lăng liễu sưa tùng

mai rừng trúc núi điệp trùng…bỗng nhiên

 

Bỗng nhiên Hà Nội vành khuyên

dịu dàng nói với dịu êm ngày ngày

sông Tô Lịch nước trong đầy

trăng thanh gió mát chốn này…bỗng nhiên

 

Bỗng nhiên Hà Nội mưa mềm

chẳng lo ngập lụt lem nhem phố phường

bói không ra chuyện tắc đường

bước đi thơi thới đời thường…bỗng nhiên

 

Bỗng nhiên Hà Nội mặt tiền

sạch trơn lòe loẹt liêng biêng xô bồ

mặt gương vằng vặc Tây Hồ

em soi nhan sắc bất ngờ…bỗng nhiên

  

(Viết Ngày 1 tháng 4 năm 2011)

alt

Bốt Hàng Đậu Hà Nội

Ảnh: ST trên NET

 

More...