Hình ảnh đối phương trong "Đối chiến"

By Sinh ở cuối dòng sông

HÌNH ẢNH ĐỐI PHƯƠNG TRONG “ĐỐI CHIẾN”

Nguyễn Hữu Quý

Những người lính dù quả cảm của Thiếu tá Thời lần lượt gục ngã. Có người chỉ còn cách chiến hào địch quân trong gang tấc. - Hỏng chuyện rồi! Chúng nó đã đoán được ý đồ của ta! Thiếu tá Huỳnh Xuân Thời vừa kịp nghĩ vậy thì trúng đạn ngã vật xuống như một thân cây bật gốc. Anh cũng chỉ còn cách chiến hào của Bắc quân trong gang tấc. Trái lựu đạn trên tay anh đã rút chốt nhưng chưa kịp thảy vô chiến hào quân địch khi bàn tay anh buông xuôi duỗi ra thì nó nổ tung khiến thi thể anh nảy bật lên thêm một lần nữa rồi rơi xuống nằm vắt ngang chiến hào đối phương. Cuối cùng anh cũng đã tới đích.

Đấy là một đoạn văn trích từ tiểu thuyết Đối chiến của nhà văn Khuất Quang Thụy. Những chiến binh được tác giả gọi là quả cảm ấy viên sĩ quan cấp tá được miêu tả như một người hùng ấy chính là đối phương của ta trong cuộc chiến tranh chống Mỹ. Đối chiến cuốn tiểu thuyết mới nhất và khá dày dặn (636 trang khổ 14 5x20 5) này do Nhà xuất bản Quân đội nhân dân in năm 2010 đã được viết nên từ những trải nghiệm và cảm hứng từ một sự kiện lịch sử có thật: chiến dịch Đường 9 – Nam Lào xuân 1971 của nhà văn Khuất Quang Thụy. Cuộc đối đầu máu lửa trên Đường 9 – Nam Lào đã trở thành dấu mốc cho một bước ngoặt quan trọng của chiến tranh Việt Nam. Mỹ muốn “Việt Nam hóa chiến tranh” và nói theo cách của báo chí thời ấy là “thay màu da trên các xác chết”. Đấy là màn mở đầu báo hiệu sự phá sản hoàn toàn của chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” sau 4 năm nữa khi Quân đội và nhân dân ta hoàn thành nhiệm vụ “Đánh cho Mỹ cút đánh cho ngụy nhào”…(Thơ chúc Tết năm 1969 của Chủ tịch Hồ Chí Minh).

Cuộc đọ sức giữa lực lượng hai phía được tái hiện lại bằng ngôn ngữ và bút pháp tiểu thuyết trên cái nền lịch sử đã có nói chính xác hơn là trên cái “hiện thực đã đi qua” đủ một khoảng thời gian để người cầm bút tỉnh táo nhìn nhận suy ngẫm sự kiện sự việc sâu sắc hơn và cũng công bằng sòng phẳng hơn về ta và đối phương. Theo tôi thì cảm hứng thôi thúc Khuất Quang Thụy viết Đối chiến không phải để mô tả lại chiến dịch Đường 9 – Nam Lào nhằm tô đậm thêm chủ nghĩa anh hùng cách mạng theo âm hưởng sử thi quen thuộc như bấy nay mà chủ yếu là nói về con người trong chiến tranh. Con người là “mẫu số chung” của các nhân vật trong tiểu thuyết này. Những con người Việt Nam bên này hay bên kia đều bị cơn bão chiến tranh cuốn vào quăng quật và nhào trộn trong sức mạnh phũ phàng dữ dội của đạn bom máu lửa hận thù của sự  nghiệt ngã “một mất một còn” giữa hai lực lượng không cùng chung lý tưởng. Họ có chung một Đất nước một Quốc Tổ Hùng Vương cùng là con Rồng cháu Tiên cả. Họ đều mang dòng máu anh hùng của Lý Thường Kiệt Trần Quốc Tuấn Lê Lợi Quang Trung…nhưng bi ai thay những người lính ấy lại cầm súng chiến đấu cho hai lý tưởng đối lập  phụng sự cho hai chế độ khác nhau và đương nhiên cũng được dạy dỗ giáo huấn đào luyện theo hai cách không đồng dạng. Trên chiến trường họ là đối thủ là kẻ thù đâm chém bắn giết nhau nhưng trong Tổ quốc họ là dân Việt trong nhân loại họ là con người. Con người kẻ thù con người đối phương hiện lên như thế nào trong Đối chiến đấy chính là sự quan tâm nhất của tôi khi đọc tiểu thuyết này.

Có vẻ như Khuất Quang Thụy đã xác định rõ thái độ khi gõ vào bàn phím. Công bằng. Sòng phẳng. Với cả hai bên. Thời ấu trĩ viết là phải: ta mạnh địch yếu ta tốt địch xấu ta hay địch dở ta thắng địch thua đã lui xa xa rồi. Người ta đã nhận ra tính phi nghệ thuật của lối viết văn minh họa cho đường lối phục vụ cho tuyên truyền. Tính lịch sử tính khoa học là những điều kiện cần của người cầm bút bây giờ. Có như vậy hiện thực được phản ảnh trong tác phẩm mới sinh động và chân thật tiếp cận gần hơn đúng hơn cao hơn cuộc sống vốn rất phong phú đa dạng phức tạp và mọi thiên vị thiên kiến cực đoan không phải là mong đợi của người đọc. Chúng ta mong đọc những tác phẩm viết về lịch sử và chiến tranh đúng với tiến trình và bộ mặt thật của nó nhân vật mang trong đó những phấn khích cuồng nộ hay dằn vặt ai oán của thời đại những cung bậc tình cảm và ước vọng rất con người của một thời để soi rọi tự vấn muôn đời. Kẻ thù quân địch chỉ là cách gọi theo nghĩa chính trị trong con mắt quan sát của nhà văn thì đó chỉ là con người. Con người đó là nhân vật lớn nhất duy nhất bao trùm nhất mà nhà văn đi vào thám sát mổ xẻ trước khi đưa vào tác phẩm của mình.

Nhân vật đối phương mà Khuất Quang Thụy tốn công bồi đắp nhất dành nhiều tâm huyết nhất và cũng “yêu” nó nhất trong Đối chiến có lẽ là Huỳnh Xuân Thời. Xét về mặt gốc gác hoàn cảnh thì “anh” có nhiều nét giống các “đồng chí” của ta. Thời quê Bình Định thuộc vùng Tây Sơn Hạ nơi phát tích sự nghiệp lừng lẫy nhưng ngắn ngủi của Nhà Tây Sơn Nguyễn Huệ. Sinh ra và lớn lên trong một gia đình nhà nghèo con đông ba má Thời làm quần quật tối ngày mà không lo đủ cơm ăn áo mặc cho đàn con mới 15 tuổi anh đã phải bỏ học đi phụ việc cho chủ lò đường ngoài xóm Bàu Lô. Ông chủ lò là dân máu mê võ nghệ nên sau mỗi ngày làm việc dù mệt đứ đừ Thời cũng phải ở lại học võ với mấy đứa con ông chủ yếu làm quân xanh cho chúng nó đấm đá trong đó có  Út Nhỏ sau nay thành vợ của anh. Vợ sinh con một bề toàn là gái nên anh chàng Thời quê mùa này đã mừng rum khi được gọi đi quân dịch. Nhiều may mắn đã đến với Thời do nổi bật qua một kỳ thi đấu võ nghệ nhân dịp một ngày lễ lạt gì đó nên sau chín tuần huấn nhục tại quân trường anh được tuyển vô trường sĩ quan trù bị Thủ Đức. Cũng nhờ giỏi võ nghệ mà anh được chọn về một đơn vị lính dù và trong mùa xuân 1968 Thời đã chỉ huy trung đội hình thành mũi đột kích tiến vô đánh bật địch quân ra khỏi thành nội thượng lại quốc kỳ Việt Nam Cộng Hòa lên kỳ đài Phu Văn Lâu. Đó là thời khắc vẻ vang trong cuộc đời binh nghiệp Huỳnh Xuân Thời. Trong con mắt của phía bên kia anh là biểu tượng của tuổi trẻ cứu nước là hình ảnh tiêu biểu tinh thần kiêu dũng của lính dù thần tượng ngự trị trong trái tim những cô gái Huế.  Và điều gì đến sẽ phải đến Thu Cúc một nữ sinh mơ mộng của trường Đồng Khánh đã trở thành tình nhân và sau đó là vợ bé của chàng sĩ quan dù kiêu hùng này. Huỳnh Xuân Thời trung thành với chế độ chiến đấu gan góc và đã chết đúng tinh thần quả cảm của một người lính đúng danh dự của một sĩ quan. Trước khi liều mình xông vào của tử Thời đã gửi lại chiến hữu chiếc khăn chặn sữa của con trai (do Thu Cúc trao cho anh khi ra trận như một lá bùa hộ mệnh may mắn) nhờ đưa về cho vợ mình. Một chi tiết rất người mở ra những vầng sáng nhân bản ấm áp trong ta. Chớ vội lý giải hành động và cái chết của anh theo hướng nào chỉ cần chia sẻ điều này:  con người nào cũng phải đề cao trách nhiệm và phận sự mà xã hội đã giao phó và trong muôn vàn mối quan hệ khó có gì sánh bằng tình yêu gia đình. Đất nước thêm một góa phụ trẻ trung và những đứa con mồ côi bố. Cái chết của Thời và những chiến hữu của anh không lạ gì hết với chiến tranh tổn thất của bên này là thắng lợi của bên kia nhưng với những người vợ lính thì đó là nỗi đau thăm thẳm không gì lấp hết được.

Với tinh thần đó các nhân vật thuộc tuyến bên kia cũng đều được nhà văn xây dựng bởi những diện mạo phẩm tính rất “con người”. Đó là những con người của chế độ Việt Nam Cộng Hòa thân Mỹ những sĩ quan binh lính được giáo dục đào luyện và hành động theo lý tưởng và hoàn cảnh xã hội của họ. Và không sai chút nào những gì kết tụ trong họ cũng là tổng hòa các mối quan hệ xã hội. Tốt đẹp - xấu xa cao cả - thấp hèn lương tâm - vô liêm sỹ…đủ cả. Khuất Quang Thụy cố gắng dựng lên chân dung những người lính bên kia qua cái nhìn ít bị khúc xạ nhất và thoát ly khỏi những quan điểm chính trị đã kết kén xây tổ trong những nhà văn quân đội kỳ cựu như ông. Không có sự hạ thấp hay bôi lem mỉa mai nào ở đây. Từ những nhân vật như tướng Hoàng Xuân Lãm Ngô Quang Trưởng Du Quốc Đống…đến các sĩ quan thấp hơn như Nguyễn Văn Thọ Sơn Đường Ngô Thanh Vân Trần Thiện Khanh…và cả hạ sỹ Huỳnh Văn Thôi người lính dũng cảm đã nằm đè lên quả lựu đạn sắp nổ của đối phương để cứu cấp trên của mình đều không hề bị bóp méo thành quái dị. Hành vi phát ngôn của họ rất hợp với “vai đời” họ sắm họ cũng yêu ghét như chúng ta cũng thách đấu súng như những người đàn ông tự trọng nóng nảy cũng dẻo mỏ tán gái cũng chim chuột em út bãi đáp chính bãi đạp phụ phòng nhì vợ bé tùm lum cũng viết nhạc làm thơ khi uống tới độ cũng ca vang những bài ca truyền thống như của đại đội lính Hắc Báo Độc chiến trong rừng xanh ngã xuống trên đồng vắng./ Tấm poncho bọc thây da thịt ta hòa vào núi sông…Nghĩa là cũng đầy chất trượng phu lãng tử liều mạng hay nhu nhược ươn hèn…Họ cũng có những con người không một địch thủ nào hạ được đến đường cùng sẽ tự kết liễu đời mình như đại tá Sơn Đường.

Có những trang trong Đối chiến rất “đời” như tình cảm của trung úy nhà thơ – nhạc sỹ Trần Thiên Khanh đối với đại úy Ngô Thanh Vân   chuyện hai tướng Ngô Quốc Trưởng và Du Quốc Đống thỏa thuận tìm cách xin cấp trên tha cho Huỳnh Xuân Thời và Ngô Thanh Vân thoát án nhà binh chuyện hai anh chàng này từ chỗ đấu súng với nhau trở thành anh vợ em rể cảnh Út Nhỏ ra thăm chồng và chấp nhận Cúc Thu là vợ bé của Thời…Lạ là viết về phía bên kia mà giọng văn ngôn ngữ của Khuất Quang Thụy vẫn tràn trề tình mến thương đồng loại đồng bào tránh được sự thiên kiến như thường gặp đó đây. Tôi cho đây là một thành công đáng kể trong tiểu thuyết viết về chiến tranh này của anh.

Tuy nhiên sẽ có người đặt câu hỏi: một đội quân như thế tại sao cuối cùng lại bị thất bại thảm hại trong cuộc chiến? Đấy là vấn đề khác thuộc về nghệ thuật chiến tranh thuộc về quy luật lịch sử. Cái khác cơ bản về chất của hai lực lượng vũ trang: Quân đội nhân dân Việt Nam và Quân lực Việt Nam cộng hòa chính là văn hóa chính trị. Hãy nghe lời đối thoại của hai nhân vật hai sĩ quan của Quân đội nhân dân Việt Nam trong Đối chiến. Hỏi (Chính ủy Trần Quang Đồi): …Trong điều kiện của cuộc chiến mà chúng ta đang tiến hành thì yếu tố nào sẽ khiến ta có thể giành chiến thắng trong những trận đánh những chiến dịch cần phải thắng ạ? Đáp (Thượng tướng Bộ Tổng Tham mưu): Đó chính là yếu tố con người những yếu tố văn hóa về con người là quan trọng nhất có tính quyết định nhất…Điều đó cũng chẳng phải là một bí mật ghê gớm gì. Để xây dựng được một thế hệ những người cầm súng yêu nước. có lý tưởng và có đầy đủ bản lĩnh kỹ năng chiến đấu trên chiến trường đã là điều khó nhưng để dựng xây cả một dân tộc xây dựng cả một xã hội mà trong đó mọi người đều sẵn sàng hy sinh cống hiến đều hướng tới mục tiêu đánh thắng kẻ thù xâm lược là một điều còn khó khăn gấp bội. Nhưng điều khó khăn lớn nhất đó Đảng ta Nhà nước ta và quân đội ta đã làm được…

Câu trả lời như thế đã rõ. Lịch sử đã minh chứng cho tính đúng đắn của nó. Trong dựng nước và giữ nước không có gì thay thể được sức mạnh của dân tộc của nhân dân. Đó là năng lượng vĩ đại của sự đồng thuận cao khi nhân dân được tập hợp đoàn kết chặt chẽ dưới ngọn cờ chính nghĩa. Sức dân như nước ai dành được dân người đó sẽ chiến thắng. Trong Đối chiến có một tuyến nhân vật khác thể hiện điều này cũng rất sinh động và đầy thuyết phục. Nhưng đó không phải là nội dung của bài viết này xin được hẹn vào dịp khác.

                                                                                                                                        Đồng Xa đầu hạ 2011

alt

Quảng Trị 1972

Ảnh st trên NET

 

More...

Nhìn trẻ con chơi

By Sinh ở cuối dòng sông

Nguyễn Hữu Quý

NHÌN TRẺ CON CHƠI

 

Chẳng biết chúng nó con nhà ai

mà chiều nào cũng đến sân chung cư tụ tập

bọn con trai đá bóng

bọn con gái đạp xe

hò hét om sòm

vui lắm!

 

Còn lâu rất lâu nhé chúng mới như ta lẩn thẩn

đi bộ chốc chốc lại ngó lên trời

trời có gì đâu chỉ mây và mây

 

Còn lâu rất lâu nhé chúng mới như ta chầm chậm

qua đường phải giơ tay

như cái ba ri e lơ lửng

 

Đừng bận tâm đến ta

om sòm nữa đi hỡi lũ quỷ xinh tươi

đứa nào cũng như vừa chạy ra từ tranh vẽ

đá bóng

đạp xe

và nhiều trò nữa

trò nào cũng quen cũng lạ với ta rồi!

 

Trẻ con chơi mới thật là chơi

trẻ con cười mới thật là cười

cười của trẻ như liều thuốc bổ

cho những người “lắm tuổi” như ta!

 

Mà này sẽ đến lúc ta lộn về trẻ nhỏ

có cho ta chung cuộc không nào?

Nói vui thôi

ta đã có phần ta: một viên bi lỗ đáo

phía chân trời cũng có một sân chơi

alt

 

More...

Quán thơ ở cuối dòng sông: Mưa rào và tuổi nhỏ

By Sinh ở cuối dòng sông

MƯA RÀO VÀ TUỔI NHỎ

 

Phút chốc mặt đường rửa sạch

Và bị trẻ con chiếm lĩnh

Từ các nhà các ngõ ùa ra

Trận mưa thứ hai

Mát tươi đường phố

 

Trần truồng đen nhẫy

Các em chạy nhảy lăn bò.

Không còn bóng người lớn

Không còn vết bánh xe bụi bặm bước chân chen chúc

Chỉ các em với trận mưa to.

Hứng thẳng nước từ trời cao mà gội những mái đầu hoang dại

Tiếng các em la hét và tiếng mưa như trống như chuông.

Mưa lặng bất ngờ như mưa sa

Các em cũng biến đi tất cả

Trả lại mặt đường cho những người hối hả đua chen

Và bây giờ thân mình nhỏ nhắn của các em

Đang lặng lẽ bốc hơi từ những góc nào kín đáo.

                                       Hoàng Hưng

alt

Lời bình của Nguyễn Hữu Quý

Rõ ràng ở đây cùng một lúc có hai “cơn mưa”. Mưa rào mùa hạ và "Trận mưa thứ hai/ Mát tươi đường phố". Trận thứ hai là “mưa” trẻ con "Từ các nhà các ngõ ùa ra". Cơn mưa rào và cơn mưa tuổi nhỏ đồng hành với nhau hồn nhiên vui vẻ tưng bừng. Mưa rào đến làm cho mặt đường rửa sạch và ngay tức thì "bị trẻ con chiếm lĩnh" (cứ như bộ đội vậy) làm nên trận mưa thứ hai. Đáng yêu lắm lắm.

Chính vì thế mà nhà thơ tập trung miêu tả trận mưa thứ hai này. Những hình ảnh hồn nhiên trong sáng lần lượt xuất hiện: "Trần truồng đen nhẫy/ Các em chạy nhảy lăn bò". Sự ồn ào chen chúc bụi bặm của phố xá biến mất chỉ còn "các em với trận mưa to/ Hứng thẳng nước từ trời cao mà gội những mái đầu hoang dại". Hình ảnh thật cụ thể sinh động và mang ý nghĩa sâu sắc. Đó là thiên nhiên với con người cần phải sống hài hòa thân thiện.

Hai cơn mưa hòa trộn vào nhau náo nhiệt hứng khởi với những âm thanh: "Tiếng các em la hét và tiếng mưa như trống như chuông". Còn gì khoái hơn khi trẻ con được tắm mưa rào. Tiếng mưa nghe rộn ràng vang vang "như trống như chuông" thì đích thị là Hội rồi. Hội mưa rào vui vẻ của các em với đất trời. Âm thanh mưa rơi được khuyếch đại phóng đại lên hết cỡ nhằm diễn tả đúng niềm vui của các em và sự giao hòa thân mật giữa thiên nhiên với trẻ con. Tiếc là "Mưa lặng bất ngờ như mưa sa" nên "Các em cũng biến đi tất cả". Đường phố lại hối hả đua chen bụi bặm. Trẻ con như những giọt mưa lành đang lặng lẽ bốc hơi ở những góc nào kín đáo. Buồn. Nhưng không sao đâu các em ạ. Những giọt nước bốc hơi bay lên trời lại thành mây thành mưa. Thế là cơn mưa rào mát tươi lại trở về với tuổi nhỏ chúng ta.

 

More...

Những cuộc đi từ Nhà số 4

By Sinh ở cuối dòng sông

NHỮNG CUỘC ĐI TỪ NHÀ SỐ 4

Nguyễn Hữu Quý

Cuộc đời tôi bắt đầu chuyển sang trang khác khi bước qua cổng Nhà số 4 – Tạp chí Văn nghệ quân đội có cặp đại già trầm tư đứng gác hai bên. Đó là vào ngày 9 tháng 3 năm 1997. Thực ra quyết định điều động tôi về Văn nghệ quân đội của Bộ Quốc phòng ký từ tháng 12 năm trước nhưng do công tác bàn giao ở đơn vị nên đến ngày đó tôi mới có mặt ở Tạp chí.

Thời gian trôi nhanh thật mới đó mà đã 14 năm. 14 năm ấy tôi có nhiều kỷ niệm vui buồn với Nhà số 4 nơi mà trước đây một người cầm bút vốn “làng nhàng tỉnh lẻ” như tôi chưa bao giờ mơ đặt chân vào. Trời thương hay được các liệt sỹ phù hộ ( do viết một số bài thơ về các anh chị: Bông huệ trắng; Khát vọng Trường Sơn) như bạn bè thường nói nên tôi mới “thành” như ngày nay? Và tôi cũng mang cái tâm cảm ấy trong hành trình sáng tác trong cuộc đời mình nên khi trường ca Vạn lý Trường Sơn xuất bản tôi đã mang vào Nghĩa trang liệt sỹ quốc gia Trường Sơn ở thượng nguồn sông Bến Hải để thắp hương hóa vàng như một cách báo cáo tri ân trước anh linh những người lính hy sinh cho Tổ quốc.

14 năm ấy khi ngoảnh lại quá khứ tôi cảm nhận được khá đầy đặn hạnh phúc mình có khi được là đồng đội gần gũi của những nhà văn quen thuộc như Dũng Hà Hồ Phương Nguyễn Chí Trung Nam Hà Phạm Ngọc Cảnh Nguyễn Trí Huân Lê Thành Nghị Nguyễn Bảo Lê Lựu Nguyễn Thị Như Trang Nguyễn Đức Mậu Anh Ngọc Vương Trọng Chu Lai Khuất Quang Thụy Trung Trung Đỉnh Trần Đăng Khoa Hồng Diệu Ngô Vĩnh Bình…và sau này là những bạn viết như Đỗ Viết Nghiệm Nguyễn Quốc Trung Sương Nguyệt Minh Nguyễn Hòa Nguyễn Bình Phương Nguyễn Đình Tú Đỗ Bích Thúy Nguyễn Thanh Tú Thái Nam Anh Phạm Duy Nghĩa Phùng Văn Khai Đỗ Tiến Thụy Nguyễn Thế Hùng Nguyễn Mạnh Hùng Đoàn Minh Tâm Đoàn Văn Mật…Hai họa sỹ tên Hải một họ Quách tên lót Đại một họ Nguyễn tên lót Xuân cũng để lại trong lòng tôi nhiều thương mến. Cũng vậy nhiều anh chị em nhân viên hành chính như Phạm Huy Tưởng Lê Hồng Quân Nguyễn Xuân Kiểm Trần Thị Lâm Trần Thị Bình Vũ Thị Thơm Phạm Như Quỳnh Duy Quang…đã cho tôi những tình cảm đẹp. Bây giờ có bác đã thành cỏ xanh miên man mặt đất có bác là ngọn khói mong manh bay lên trời có anh chị đã nghỉ hưu có người đang tại ngũ.

Đêm nằm nghĩ ngợi gần xa không thể không tự vấn về ứng nhân xử thế của mình. Bởi cuộc đời có dài lắm đâu chứ! Tướng Dũng Hà mới hôm nào còn vạm vỡ hồng hào gặp gỡ đàn em là thích nói nhiều nói sôi nổi mà nay đã thành người thiên cổ. Họa sỹ Quách Đại Hải gầy gò chưa xa lắm còn thi thoảng lên phòng tôi “xin” chén rượu Ba Đồn nhâm nhi nhắc chuyện thời chiến tranh nơi quê bọ. Mới hôm nào anh còn hát chèo i hi và tường thuật bóng đá trên chuyến xe lên Điện Biên cho chúng tôi nghe và khi về hưu chăm chút cho 4 cái vui thích của mình là “vẽ viết vườn vợ” mà nay cũng ra đi rồi.

Cuộc đời có dài lắm đâu chứ! Mới ngày nào tôi đặt chân vào Nhà số 4 tóc chưa sợi bạc rụt rè xách chai rượu Kim Long (đặc sản Quảng Trị quê vợ tôi) sang mừng căn hộ mới của anh Nguyễn Bảo Nguyễn Đức Mậu ở 8 Lý Nam Đế mà nay đầu đã hoa râm mặt mũi nhàu nhĩ lắm rồi. Vô vàn em chân dài giữa chốn Hà thành kính cẩn chào ông chào bác. Còn nhớ anh Ngô Vĩnh Bình dắt cái thằng lớ ngớ là tôi sang quân y báo Quân đội làm quen để khi nhức đầu sổ mũi còn biết chỗ xin thuốc. Nhớ Khoa “cuội” đưa tôi và Trần Thanh Hà đi ăn cơm bụi ở quán Gầm cầu mà hắn ta không thèm gọi cho tôi một cốc bia chén rượu nào và thi sĩ thần đồng quá nổi tiếng này ung dung lôi từ trong túi xách ra một chai nước mắm miền Trung cực ngon chiêu đãi chúng tôi ăn cho đỡ nhớ quê. Nhớ Ban Thơ yêu dấu của tôi thời ấy sao mà ấm áp đến thế. Các nhà thơ Nguyễn Đức Mậu Vương Trọng Anh Ngọc thực sự coi tôi như em rất nghiêm khắc trong biên tập nhưng lại hay “chiều” tôi ưu tiên cho tôi trong bình xét khen thưởng hàng năm. Bây giờ và mai sau trong tâm cảm của tôi các anh vẫn là những “hiền nhân” tuy làm người khó mà mười phân vẹn mười không mắc tật này cũng chứng khác. Tôi có lớn lên được chút nào cũng đều có phần đóng góp của các anh những nhà thơ mang áo lính ấy. Đấy là tôi nói thực lòng không xã giao đãi bôi vì đến độ quá ngũ thập tri thiên mệnh này đó là điều không nên. Nguyễn Đức Mậu hay nói với tôi: làm nghề biên tập phải công bằng và vô tư; tác giả có mắng mỏ mình mà thơ họ hay thì vẫn phải đăng. Đấy là lời anh nói thời tôi còn làm biên tập viên thơ lính của anh. Anh Vương Trọng cũng hay góp ý cho tôi về biên tập cũng như sáng tác. Có bài thơ tôi làm xong đưa anh đọc Vương Trọng góp ý thẳng thắn: mình thấy Quý viết như thế này là hơi tùy tiện phần đầu và phần sau không kết dính nhau bài thơ này có thể tách thành hai bài được. Làm văn chương cốt yếu phải có tài song khi tài năng có hạn mà được sống và viết trong môi trường như Văn nghệ quân đội theo tôi là may mắn. Đó là không gian của sáng tạo nơi tập hợp nhiều nhà văn có tiếng của đất nước nơi lui tới của khá đông bè bạn cầm bút mình dễ được khơi nguồn cảm hứng và có thời cơ học hỏi về nghề.

14 năm qua từ Nhà số 4 này tôi có nhiều chuyến đi bổ ích. Những chuyến đi bồi đắp thêm vốn sống và cảm hứng sáng tạo văn học. Cứ nhớ nhớ lâu chuyến đi thực tế đầu tiên của tôi và nhà văn Đỗ Viết Nghiệm xuống Sư đoàn 312 mang tên Chiến Thắng viết về tân binh. Theo nhiệm vụ mà Tổng biên tập Nguyễn Trí Huân giao là tôi làm thơ và Đỗ Viết Nghiệm viết bút ký. Hai anh em lóc cóc lên đường xuống đơn vị đi hết chỗ này sang chỗ khác từ thao trường đến nhà ở nhà ăn mà vẫn chẳng thấy xuất hiện ý thơ tứ thơ nào. Lo quá! Nhiệm vụ ban đầu Tổng biên tập giao mà không hoàn thành thì xấu hổ lắm. Hay ta chuyển sang “trả bài” bằng văn xuôi nhỉ. Không được đấy là phần của Đỗ Viết Nghiệm. Đang loay hoay liệu tính thì Đỗ Viết Nghiệm nhận quyết định vào thành phố Hồ Chí Minh làm trưởng đại diện Văn nghệ quân đội phía Nam nên không viết bài kịp. Thế là tôi xin phép viết bút ký lấy tên Khẩu súng B40 cây đàn gỗ và những chàng lính trẻ. Bài bút ký được in ngay vào số tháng 5 năm 1997. Bài văn xuôi đầu tiên in VNQĐ. Trong giao ban được phó Tổng biên tập phụ trách nội dung Lê Thanh Nghị biểu dương. Sướng quá sướng ngơ ngẩn sướng âm ỉ đến mấy tuần liền. Nhớ nhớ mãi chuyến đi Hà Giang năm 1998. Tôi được phân công đưa các cây bút trẻ - học viên lớp viết văn do VNQĐ mở - đi thực tế ở vùng Cực Bắc xa xôi heo hút này. Trung úy Nguyễn Đình Tú lúc ấy chưa về Tạp chí ta rất thư sinh đẹp trai (chứ không phải là “Tú Béo” như bây giờ) cũng có mặt. Lúc này tôi đưa con gái ra Hà Nội học lớp 8 mới được một tuần. Lên đường đúng rằm tháng tám. Trung thu. Thương con lắm nhưng không thể thoái thác nhiệm vụ. Chiều hôm trước dẫn con ra Hàng Mã mua đèn ông sao trống cơm và ra chợ Hòe Nhai mua bưởi na về bày cỗ. Đêm mười bốn hai bố con lên sân thượng đón Trung thu trước. Cũng nến cũng đèn ông sao cũng mâm quả con hát véo von bố đánh trống tùng tùng. Thương con sống mũi cứ cay cay. Chuyến đi vào mùa mưa đường sá lầy lội sạt lở trơn trượt khá nguy hiểm. Đoạn đường vào đồn Bạch Đích và Phó Bảng chênh vênh trơn như đổ mỡ lái xe sợ không an toàn nên bảo anh em xuống đi bộ. Lên Bạch Đích gặp đồn trưởng Bằng cười như nứa vỡ thích thú khi thấy cây đào nở hoa sớm rượu uống theo kiểu cạn chén bắt tay. Về viết được bút ký Nở sớm hoa đào Bạch Đích và bài thơ Với một lần Hà Giang in VNQĐ. Nguyễn Đình Tú có bút ký Bên cột mốc số 9 rất sinh động và tươi trẻ in Văn nghệ quân đội sau đó được giải thưởng của Bộ đội Biên phòng cùng với bút ký Nở sớm hoa đào Bạch Đích của tôi.Tôi với Sương Nguyệt Minh cũng gắn bó với nhau trong không ít lần đi thực tế. Vào đèo Đá Đẽo miền Tây Quảng Bình viết về bộ đội công binh rà phá bom mìn để làm đường Hồ Chí Minh CNH-HĐH. Chuyến đi có thêm nhà văn Nguyễn Thị Như Trang và Quỳnh Linh. Ăn ở sinh hoạt cùng bộ đội giữa rừng. Thấy tận mặt những quả bom phá 3000 bảng Anh những rổ bom bi những quả sát thương chưa nổ bị anh em ta đào lên và vô hiệu hóa. Nghe được câu chuyện tình cảm động của một chiến sỹ công binh quê Lương Sơn Hòa Bình với một cô gái ở Quảng Bình. Hai người yêu nhau tha thiết và đã hẹn ngày ra mắt gia đình. Anh chiến sỹ hy sinh trong khi tháo gỡ bom cô gái xin gia đình chịu tang như phận sự của một người vợ. Những câu chuyện chi tiết ấy đã đi vào bút ký của Sương Nguyệt Minh Nguyễn Thị Như Trang Quỳnh Linh rất xúc động và sau chuyến đi gian khổ mà ấn tượng này tôi cũng làm được bài thơ Những cảnh rừng còn nhiều bom đạn địch. Trong trận lụt lịch sử năm 2000 ở Thừa Thiên Huế tôi cũng với Sương Nguyệt Minh bay nhờ máy bay quân sự vào nơi đó. Một chiếc cánh quạt AH cũ kỹ ( Nguyễn Hòa nói đùa là sót lại từ chiến tranh thế giới lần thứ 2 của Liên Xô) chở hàng cứu trợ và hai nhà văn mang quân phục. Ngồi bên những thùng mì tôm nước lọc và cả bánh chưng tôi chỉ nghe ù ù ì ì tiếng động cơ. Bầu trời âm u. Vào miền Trung mây mù tràn cả vào khoang hàng hóa mịt mờ xám xịt. Máy bay lượn chục vòng vẫn không hạ cánh được. Lo. Vợ con đang vất vả thơ dại. Có mệnh hệ gì thì mình an phận là “liệt sỹ” rồi nhưng hai thằng cu Tý; Tý anh Tý em của Sương Nguyệt Minh bé Mai Sao bé Hòa Bình và cu Minh của tôi còn bé lắm thơ dại lắm. Mình mất vợ có thể tìm được chồng mới nhưng con cái thì vĩnh viễn mất cha. Nghĩ mà nao lòng xót dạ. Trời! Ra đi mà không một lời trăng trối với người thân yêu. Lúc ấy hai đứa tôi làm gì có điện thoại để gọi về nhà vĩnh biệt. Có ra đi thì sẽ ra đi trong im lặng. Vô cùng im lặng. Ầm một phát trong một sát – na thế là thân xác tan vào không trung hồn ta hồn bạn Sương Nguyệt Minh ạ sẽ thành mây trắng lang thang muôn nơi. May. Cuối cùng máy bay cũng hạ cánh được xuống sân bay Phú Bài. Sống rồi. Ha ha. Hai thằng ôm nhau. Cười. Lại xin nhờ trực thăng lên A Lưới. Lần này có thêm Quỳnh Linh (bay vào trước). Lại chui vào mây lại len lỏi qua núi. Máy bay hạ cánh dân xúm đen xúm đỏ. Mì tôm nước lọc thuốc men bốc ra. Dân mắc kẹt lụt ào vào xin quá giang về Huế. Chen chúc. Ồn ã. Không sao dẹp được. Tôi bị dân dẫm tụt cả giày văng mất mũ. Sương Nguyệt Minh bị dân túm áo rách toạc một tay lủng là lủng lẳng như tàu lá chuối phất phơ. Quỳnh Linh bị giữ chặt như một con tin. Dở khóc. Dở cười. May. Cuối cùng cũng dẹp yên. Máy bay phành phạch bốc lên. Sau chuyến đi chúng tôi đều có bài và giải thưởng báo chí toàn quốc năm đó VNQĐ được trao giải A tập thể cho những bài viết về bão lụt (gồm Nguyễn Bảo Sương Nguyệt Minh Quỳnh Linh Nguyễn Hữu Quý).

Chuyến đi Trường Sa cũng cho tôi nhiều ấn tượng khó phai. Sau 15 ngày lênh đênh trên lãnh hải thân yêu của Tổ quốc qua nhiều đảo nổi đảo chìm của Trường Sa tôi viết được khá nhiều bài bút ký thơ và cả chuyện tình dưới đáy ba lô in Văn nghệ quân đôi Văn nghệ Nhân dân cuối tuần Quân đội nhân dân…

Những chuyến đi từ Nhà số 4 tuy vất vả gian khổ nhưng thật có ích cho người cầm bút. Bây giờ tuổi không còn trẻ sức không còn sung nhưng cái máu xê dịch trong tôi vẫn đầy. Mỗi khi nghe ai gọi đi đâu đó trong lòng lại rạo rực xốn xang. Những chuyến đi khởi hành từ Nhà số 4 vẫn còn hấp dẫn tôi biết mấy!

Đồng Xa Tháng 4 năm 2011

alt

Những đầu đao quen thuộc ở mái Nhà số 4

Ảnh Thanh Khê

More...

Ở phía vô danh

By Sinh ở cuối dòng sông

Nguyễn Hữu Quý

 

Ở PHÍA VÔ DANH

 

Con đường rạng rỡ tuổi tên

còn bao hài cốt ở miền vô danh?

vết thương sâu miệng đã lành

bão chưa tan ở cội cành làng quê.

 

Ai đi đi mãi chưa về?

ai về  tên tuổi chưa đề mộ bia?

vô danh năm tháng đầm đìa

máu mồ hôi mặn bên kia chân trời!

 

Kiếp người chỉ một mà thôi

tái sinh ấy cũng là lời thế gian

hồn bay vườn ruộng đại ngàn

biết đâu thiên hạ hóa vàng nỗi đau.

 

Rừng già bạc xám hoa lau

phất phơ cờ trắng ở đâu kéo về

trận tàn còn lại tái tê

sơn khê lại vẫn sơn khê chập chờn.

 

Vô danh nhưng chẳng vô hồn

để ai nghe được bồn chồn lời âm

lặng thầm không phải lặng câm

vô danh vẫn đợi mùa đâm búp chồi…

alt

Một góc Nghĩa trang Liệt sĩ quốc gia Tân Biên Tây Ninh

Ảnh NHQ

More...

Những nẻo đường Đất Nước: Chấm phá Quan Lạn

By Sinh ở cuối dòng sông

CHẤM PHÁ QUAN LẠN

Nguyễn Hữu Quý

Từ bến Vân Đồn đi tàu cao tốc ra đảo Quan Lạn chỉ khoảng 55 phút. Nếu đi tàu gỗ bình thường thời gian chừng 2 giờ. Tùy theo lựa chọn của du khách thích thong thả để ngắm cảnh Bái Tử Long hữu tình thì đi tàu gỗ còn muốn ra đảo nhanh thì dùng tàu cao tốc. Vì công việc chúng tôi chọn tàu cao tốc ra đảo chuyến chiều lúc 14 giờ. Chuyến sáng đã xuất phát lúc 7 giờ.

Con tàu màu trắng hiện đại xé nước lao đi với tốc độ khá lớn nhưng vẫn không ảnh hưởng tới việc ngắm biển đảo của chúng tôi. Tàu chạy trong lòng vịnh Bái Tử Long mặt nước màu ngọc bích êm đềm in bóng muôn vàn đảo lớn đảo nhỏ với nhiều hình thù khác nhau. Có những đảo chạy dài như núi ở đất liền đã được phủ kín bạch đàn. Đi biển nhưng cảm giác mênh mang xa cách đất liền không rõ lắm vì đảo rất nhiều và thỉnh thoảng lại gặp những cụm nhà nổi bồng bềnh trên mặt nước. Có đảo chỉ có một vài ngôi nhà mới dựng lợp ngói đỏ tươi hay tôn màu sáng loáng. Đấy là nhà của những ngư dân đánh bắt hay nuôi hải sản. Nét làng Việt thân thương thấp thoáng trong ánh chiều tà trải dọc con đường ra Quan Lạn.

Quan Lạn đây rồi yên bình và hoang sơ vắng vẻ. Một cuốc xe lam từ bến tàu đưa chúng tôi vào trung tâm đảo. Gần lắm cảm giác ngồi trên những chiếc xe ngựa chạy loong coong ở Nam Bộ. Dư dả thoáng đãng gió biển khí trời. Những cồn cát trắng mọc đầy phi lao chạy dài suốt dọc đường đi. Lại có những bãi đất trồng lạc trồng khoai như nhiều vùng quê ở đất liền. Đảo mang hồn Việt từ lâu cách đây trên mười thế kỷ dấu chân ông cha ta đã đặt lên hoang vu mảnh đất này.

Theo các tài liệu tôi đọc được Quan Lạn nằm trong tuyến đảo phía ngoài cùng của vịnh Bắc Bộ diện tích khoảng 11 cây số vuông. Là một xã đảo có 8 thôn thuộc huyện Vân Đồn tỉnh Quảng Ninh. Từ thế kỷ XI đây đã là trung tâm của thương cảng cổ Vân Đồn. Quan Lạn là nơi còn lưu nhiều dấu tích dựng nước giữ nước của ông cha ta trên vùng biển đông bắc Tổ quốc này. Đình Quan Lạn là “điểm thiêng” mang dấu ấn lịch sử văn hóa của đảo. Đình tọa trên một khu đất bằng phẳng trông ra biển bao la có tòa đại đình dài 20 3 mét gồm 3 gian 2 chái và hậu cung sâu tới 27 8 mét. Tứ linh tứ quý hoa bướm giơi là những đề tài hình ảnh được thể hiện rất tinh xảo trong hoa văn trang trí ở đình. Thượng tướng Trần Khánh Dư người có công lớn trong trận đánh tan đoàn thuyền lương của giặc Nguyên Mông do Trương Văn Hổ chỉ huy năm 1288 là Thần chủ của đình. Tượng thần chủ Trần Khánh Dư đầu đội mũ cánh chuồn ngồi uy nghi lẫm liệt được đặt trong đình. Đó là một địa chỉ tâm linh mà dân bản địa và khách thập phương đến Quan Lạn đều rất thành kính.

Chúng tôi ra Quan Lạn không đúng dịp lễ hội Vân Đồn nên chưa tận mắt chứng kiến những hoạt động văn hóa dân gian độc đáo của đảo. Tuy vậy nghe dân kể lại đã thích. Lễ được kéo dài trong 10 ngày từ mồng 10 đến 20 tháng 6 âm lịch nhằm tôn vinh Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư và các bộ tướng người địa phương ( ba anh em họ Phạm). Nơi tổ chức chính của lễ hội là đình Quan Lạn và miếu Đức Ông (thờ Phạm Công Chính). Các nghi lễ truyền thống như thay áo cải lịch cho các nhân thần trong đền miếu cùng với các lễ rước lễ tế thần được tiến hành trang trọng chu đáo. Lễ và hội đan xen nhau hài hòa. Điểm nhấn của hội là đua thuyền. Trai tráng trong làng chia thành hai giáp văn – võ rồi các giáp chọn ra người tham gia hội đua thuyền. Đội thuyền giáp văn thi đấu với đội thuyền giáp võ trong sự hò reo cổ vũ náo nhiệt của dân làng và du khách. Khí thế và hình bóng của các tướng lĩnh binh sỹ thời Trần trong trận thủy chiến Vân Đồn chống giặc phương Bắc xâm lược được tái hiện sinh động ở hội đua thuyền.

Mùa hạ các bãi tắm ở đảo như Quan Lạn Sơn Hào Minh Châu khá đông khách. Lúc đó kiếm được một phòng nghỉ ở Quan Lạn không dễ dàng.

Khi đi bộ xuyên qua những đồi cây hoang dại ríu ra ríu rít tiếng chim chiều thỉnh thoảng lại gặp chú cú mèo to tướng giương đôi mắt tròn xoe để ra bãi cát Minh Châu trắng mịn thưa vắng bóng người chúng tôi thấy thanh thản vô cùng. Biển xanh cát trắng vẫn còn nhiều nét tinh khôi trong sạch. Mong sao đừng mọc lên ở đây những ngôi nhà cao tầng ngất ngưởng lòe loẹt đừng can thiệp quá đáng vào những cồn cát rặng phi lao đồi cây hoang dại kia. Nghĩ thế nhưng trong tôi vẫn dâng lên sự lo ngại. Không ít nơi người ta đã làm du lịch theo kiểu “mì ăn liền” chỉ biết bóc lột tàn phá thiên nhiên.

          Trở về Hà Nội cầm trên tay viên đá nhặt được trên bãi biển màu nâu đỏ được sóng mài nhẵn nhưng lại có những lỗ tròn rất lạ như tác phẩm của người tiền sử vậy tôi chợt thấy Quan Lạn rất gần. Và thật đáng yêu ở nét thanh bình thoáng đãng hoang sơ của đảo. Mong Quan Lạn đừng đánh mất sự hài hòa thân thiện với thiên nhiên để mãi là khu du lịch xanh sạch đẹp hấp dẫn du khách gần xa.

alt

Ảnh st trên NET  

More...

Quán thơ ở cuối dòng sông: Lá giầu

By Sinh ở cuối dòng sông

 

LÁ GIẦU

 

Sớm mai anh xuống núi

Lá giầu em rọc đôi

Nửa em ủ dưới gối

Nửa anh mang về xuôi

 

Anh đi cất cho kỹ

Kẻo có kẻ rình mò

Nhỡ có người nhìn thấy

Họ biết lại cười cho

 

Anh giữ lành anh nhé

Thơm cay một lá giầu

Nếu để rơi một nửa

Làm nửa lá kia đau

Dương Thuấn

Lời bình của Nguyễn Hữu Quý:

Có lẽ bắt đầu từ chuyện “Sự tích Trầu cau” Lá giầu mặc nhiên trở thành vật làm tin của tình yêu đôi lứa. Cũng phải thôi giầu cau theo phong tục người Việt Nam là những lễ vật không thể thiếu được trong hỏi cưới. Lá trầu quả cau trở thành biểu tượng của sự gắn bó thủy chung gái trai chồng vợ.

Cô gái trao cho người yêu (cũng có thể là chồng) một nửa chiếc lá giầu khi anh về xuôi. Đây là lời cô gái: "Sớm mai anh xuống núi / Lá giầu em rọc đôi / Nửa em ủ dưới gối / Nửa anh mang về xuôi". Do hoàn cảnh do công việc hai người phải xa nhau. Điều ấy vẫn thường xảy ra trong cuộc sống.

Tuy nhiên với tình yêu sự chia ly nào cũng đượm buồn cả. Cô gái không trao nguyên cả lá giầu cho người thân yêu của mình tại sao? Khi họ sắp xa nhau và lòng thủy chung sẽ được thử thách thì một lá giầu nguyên lành chẳng mang ý nghĩa gì cả. Hình ảnh chiếc lá giầu rọc đôi một nửa ủ dưới gối của em một nửa anh mang theo về xuôi mới nói được nhiều điều sâu kín. Nó chiếc lá giầu em rọc đôi ấy mang trong đó những gửi gắm yêu thương những hẹn ước và mong mỏi. Mong anh đi chân cứng đá mềm và đừng bao giờ quên “một nửa của mình” đang ngóng đợi anh nơi góc núi xa xôi này. Lá giầu như chiếc “bùa” tình yêu một nửa thuộc về anh một nửa ở nơi em. Nếu mất đi phần nào thì lá “bùa” ấy không còn linh nghiệm nữa và tình yêu cũng vỡ tan theo.

Chất mộc mạc hồn hậu của người miền núi thể hiện rất rõ trong dặn dò của cô gái: "Anh đi cất cho kỹ / Kẻo có kẻ rình mò / Nhỡ có người nhìn thấy /Họ biết lại cười cho". Chẳng văn vẻ quanh co một chút nào. Thật thà nhưng cũng vô cùng tinh tế sâu sắc. Dặn chồng (hay người yêu) cũng là nhắc mình gìn giữ và còn thấp thoáng trong ấy nỗi lo lo. Lo là lo có kẻ rình mò lấy mất lo là lo có người nhìn thấy cười nhạo. Tình yêu nào chẳng sợ bị đánh cắp cám dỗ tình yêu nào chẳng ngại chông chênh trắc trở tình yêu nào chẳng cần đến sự giữ gìn trước sau. Tâm lý người phụ nữ bộc lộ khá rõ trong những câu thơ không hề trau chuốt này. Khi cái tình cái ý được gói trong sự giản dị là thơ đã đạt được tới độ hay. Cái hay vượt ra ngoài câu chữ truyền cảm đến người đọc những rung động sâu sắc về cái đẹp cái thiện của cuộc sống. Khát khao cho tình yêu lành lặn vẹn nguyên tràn đầy hạnh phúc có ở trong mọi người phụ nữ:" Anh giữ lành anh nhé / Thơm cay một lá giầu / Nếu để rơi một nửa / Làm nửa lá kia đau".

"Nếu"…đó chính là hình dung về sự khổ đau của cô gái khi tình yêu tan vỡ. Một nửa bị đánh rơi có nghĩa là không còn thơm cay một lá giầu nữa cũng như tình yêu đâu chỉ làm nên được bởi một người.

alt

Ảnh st trên NET

 

 

 

 

More...

Thỉnh thoảng tóc dài

By Sinh ở cuối dòng sông

Nguyễn Hữu Quý

THỈNH THOẢNG TÓC DÀI

 

Cái thời tóc ngắn đại trà

hình như váy cũng í à ngắn theo

nhớ sao một thuở khó nghèo

tóc dài em thả…chấm đèo chạm sông.

 

Bới cao là gái đã chồng

đuôi sam lúc lắc má hồng chưa ai

hương bồ kết gội ban mai

chiều buông mái vẫn chưa phai mượt mà.

 

Càng mong càng vắng càng xa

lâu rồi chả gặp đi qua tóc dài

nơi siêu thị chốn lai rai

máy bay tàu hỏa…ước vài em thôi!

 

Tóc dài tưởng đã xa xôi

chiều nay xe buýt em ngồi kề bên

cười nhưng chẳng dám hỏi tên

thôi thì ta cứ gọi em “tóc dài”

 

Tôi về Cầu Giấy mà ai

Chùa Hà đã dậy khoan thai bấm đèn (*)

chảy tràn suối tóc mượt đen…

Cầu Trời thỉnh thoảng có em tóc dài!

 

-----------

(*) Đi xe buýt đến điểm xuống phải bấm đèn trước.

altalt

More...

Những nẻo đường Đất Nước: Cảm nhận Thái Bình

By Sinh ở cuối dòng sông

CẢM NHẬN THÁI BÌNH

Bút ký Nguyễn Hữu Quý

 Cách đây mười ba năm tôi đã đếnThái Bình. Hồi ấy quê hương năm tấn “thóc không thiếu một cân quân không thiếu một người” của thời đánh Mỹ đang là “điểm nóng”. Tôi chị Nguyễn Thị Như Trang anh Sương Nguyệt Minh theo chân nhà văn Nguyễn Chí Trung lúc bấy giờ là trợ lý của nguyên Tổng bí thư Lê Khả Phiêu về một xã nóng nhất của Quỳnh Phụ. Về nông thôn nhưng theo ý bác Trung đoàn công tác vẫn phải cơm đùm gạo bới như thời bao cấp. Lúc ấy phà Tân Đệ vẫn còn và sau khi vượt sông Hồng để đặt chân lên mảnh đất Thái Bình cánh nhà văn tạp chí Văn nghệ quân đội chúng tôi phần nào đã cảm nhận được không khí bức bách tỏa ra từ những làng quê ở đây. Chuyện cũ được nhắc lại khi xe bon bon trên cầu Tân Đệ sang Thái Bình trong chuyến đi thực tế  của những nhà văn mang áo lính chúng tôi.

Vùng đất này nuôi dưỡng khí phách mãnh liệt sự thẳng thắn cương trực khác thường tôi nghĩ thế. Trong sự yên hòa của Thái Bình bây giờ tôi thấy thấp thoáng hào khí Đông A sáng tỏa hừng hực từ mảnh đất phát nghiệp Nhà Trần. Đâu đây hiện lộ anh linh tướng quân Uy Viễn Nguyễn Công Trứ chất ngang tàng của bốn phương tụ bạ về vùng đất bồi mặn mòi chân sóng và gần ta hơn là tiếng trống Tiền Hải âm vang dưới cờ búa liềm tung bay trong gió biển. Nhiều tài danh sinh ra từ đất này tạo dấu ấn lịch sử vang dội gắn với những thời khắc khó quên của đất nước. Triều đại Nhà Trần lừng danh muôn thuở với kỳ tích ba lần chiến thắng giặc Nguyên Mông. Còn đó đền thờ các Vua Trần tại xã Tiến Đức huyện Hưng Hà (Thái Đường Long Hưng xưa). Đây là đất phát tích đất tôn miếu Nhà Trần hơn bảy thế kỷ trước. Thái Đường lăng linh dị giang sơn/ Trần sử diễn truyền kim thắng địa ( Lăng Thái Đường linh dị núi sông/ Sử Triều Trần còn truyền danh thắng). Mảnh đất này sinh ra Lê Quý Đôn nhà bác học nổi tiếng trên đất Việt. Tiếp nối Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn…thời hiện đại có danh tướng Hoàng Văn Thái cầm quân đánh giặc lẫy lừng anh hùng Phạm Tuân phi công Việt Nam đầu tiên bắn cháy B52 Mỹ và bay lên vũ trụ. Chưa hết Tạ Quang Luật người phất cờ Quyết thắng trên nóc hầm Đờ cát xtơri ở Điện Biên Phủ ngày 7 tháng 5 năm 1954 là người Thái Bình “đồng hương” với Bùi Quang Thận người cắm cờ Giải phóng lên dinh Độc lập ở Sài Gòn vào ngày 30 tháng 4 năm 1975. Những thời khắc lịch sử vô cùng trọng đại của đất nước lấp lánh tên tuổi người Thái Bình. Niềm tự hào ấy không phải nơi nào cũng có.

Thái Bình của thời đổi mới không thiếu cái hay để nói không thiếu những anh hùng khiến ta phải nghiêng mình kính nể. Trần Văn Sen là một điển hình. Ông là ai? Xin thưa đó là nghệ nhân Anh hùng lao động Tổng giám đốc Công ty TNHH Hương Sen. Dựng được cơ ngơi hoành tráng như bây giờ Trần Văn Sen cũng đã từng trăn trở nhiều lắm trước cái nghèo của dân của nước. Khởi nghiệp từ việc bán một phần đất nhà mình để lấy tiền sang Nam Định Hà Tây (cũ) học nghề dệt mang về quê hương Hưng Hà. Thế mà thành công. Từ không thành có từ ít thành nhiều Hưng Hà giờ đây ngoài huyện lúa với những cánh đồng lung linh như huyền thoại còn là  huyện dệt vì 23/24 xã có nghề dệt lụa sa tanh vải bò xuất khẩu. Hai năm sau khi Đảng chủ trương đổi mới năm 1988 Trần Văn Sen đã vay tiền của bạn bè người thân thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn đầu tiên. Hỏi : tại sao bác liều thế ? Ông trả lời : thấy hàng Trung Quốc tràn ngập nước mình đêm ngày trằn trọc họ làm được sao mình không làm được thế là máu lên thôi. Lập doanh nghiệp tư nhân nhưng không hề giảm sút lòng tin vào Đảng. Chứng cớ rành rành đây : công ty ông là một trong những doanh nghiệp tư nhân đầu tiên trong nước thành lập chi bộ và sắp tới sẽ đề nghị nâng lên thành đảng bộ. Ông kể đã có bảy đồng chí ủy viên Bộ Chính trị trong đó có bác Đỗ Mười đến công ty ông nghiên cứu về mô hình doanh nghiệp tư nhân. Hiện tại việc ấy rất bình thường nhưng mười mấy năm về trước thì đó là cơn gió mới. Công ty sản xuất bia và nước giải khát của Trần Văn Sen hiện giờ là một doanh nghiệp sáng giá của Thái Bình. Sản phẩm bia đen mang tên Đại Việt của Công ty đã được xuất khẩu qua Mỹ và 30 nước khác trên thế giới. Xin nói thêm sản phẩm bia chai Dark beer (bia đen xuất khẩu) đã được trao Cúp  Bạch Kim  đỉnh cao chất lượng Việt Nam năm 2008. Năm 2009 Công ty nộp cho Nhà nước 190 tỉ đồng năm 2010 con số ấy đã là 350 tỉ. 350 tỉ/ 500 tỉ của tỉnh Thái Bình sự đóng góp không nhỏ. Chúng tôi thật sự ngỡ ngàng khi đến thăm nhà máy bia Hương Sen. Sạch sẽ. Ngăn nắp. Còn hơn phòng khách nhà mình tôi thốt lên. Nhìn ra xung quanh phía ngoài Nhà máy những thảm cỏ xanh rờn và khá nhiều cây cối tươi tốt. Cái gì cũng có giá của nó cả. Năm 1993 1994 Công ty mời Bộ Quốc phòng đến tư vấn cho việc bảo vệ môi trường .Sau đó Tổng giám đốc Trần Văn Sen cho mời chuyên gia môi trường ở Nhật Bản bay qua đây nghiên cứu và tư vấn cho Nhà máy. Ông nói vừa rồi chấm điểm về môi trường Nhà máy bia Hương Sen đạt 99/100 điểm.

Tư duy làm ăn của người Thái Bình đã bắt nhịp vào sự hội nhập quốc gia quốc tế. Sản phẩm làm ra từ hạt lúa chai bia đến hàng dệt may thủy sản phải có giá trị hàng hóa cao. Trong trồng lúa vấn đề tăng năng suất bây giờ không quan trọng bằng nâng cao chất lượng gạo. Hạt gạo phải ngon hơn thơm hơn và đẹp hơn mới chiếm lĩnh được thị trường với giá cao hơn. Trên một nửa tổng diện tích của Tiền Hải đã cấy giống lúa chất lượng cao. Hưng Hà cũng gần gần như thế. Năm mười năm nữa theo như bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Hạnh Phúc nói thì Thái Bình vẫn là tỉnh nông nghiệp vậy nên quê ta vẫn phải bám vào cây lúa để làm giàu. 65 % thường dân Thái Bình còn phải phấn đấu làm giàu trên những cánh đồng quê hương thân thuộc tuy cơ cấu kinh tế đã đổi thay nhiều theo hướng tăng tỉ lệ công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp - dịch vụ. Nghĩa là trong tương lai gần Thái Bình phải có những khu nông nghiệp công nghệ cao. Chủ tịch Tỉnh đã bay qua Nhật Bản học hỏi điều này rồi. Cũng chẳng còn sớm nữa thời đại này chậm bước nào là thiệt bước nấy thôi phải chạy đua với thời gian. Chạy đua không biết mệt mỏi.

Con ngao được nhắc đến nhiều lần trong chuyến về Thái Bình của chúng tôi lần này. Mặc dầu biển Thái Bình không chỉ có mỗi ngao. Về xã Nam Thịnh huyện Tiền Hải đứng ở Cửa Lân trông ra biển thấy nhấp nhô trên mặt nước nhiều chiếc chòi nhỏ. Và xa xa những đoàn người lấp xấp đi trên mặt bùn nhão nhoét lúc triều vơi. Chòi trông ngao. Người nhặt ngao đấy. Tìm hiểu mới biết rằng giống ngao nuôi ở đây có nguồn gốc từ nước bạn Trung Quốc dân ta nhập về từ năm 1992. Từ đó đến nay ngao trở thành nguồn thu lớn của Nam Thịnh. Chủ tịch xã chị Trần Thị Thủy hồ hởi cho biết : chưa hết năm 2010 dân chúng tôi đã thu hoạch ở bãi triều được 13.500 tấn ngao tính ra tiền là 270 tỉ đồng. Ngao được bán sang thị trường Châu Âu với giá 22.000 đồng/ kg bán qua Trung Quốc theo đường tiểu ngạch ít hơn một chút chừng 20.000 đồng một cân. Không thể không bất ngờ khi biết rằng thu nhập bình quân của người dân Nam Thịnh trong năm nay là 45 8 triệu đồng xã có khoảng 70 gia đình có tiền tỉ. Bảy chục tỉ phú ngao ở một làng quê ven biển Tiền Hải có mấy nơi được thế. Mỗi năm xã thu ngân sách được 5 5 tỉ đồng. Đây là một trong hai xã thị trấn duy nhất của Thái Bình tự trang trải ngân sách không phải nhờ vào nguồn trợ cấp trên. Kinh tế lên kéo theo các mặt khác phát triển. Ba bậc học của xã đều đạt chuẩn quốc gia 6 năm liền Nam Thịnh dẫn đầu Thái Bình về y tế cơ sở 80% gia đình văn hóa. Xã còn nổi danh với đội dân quân tự vệ biển mạnh được huấn luyện quân sự bài bản. Bạn Cu Ba đã về nghiên cứu mô hình tổ chức dân quân tự vệ tại đây.

Ngắm bản đồ hành chính Thái Bình trong phòng khách Tỉnh ủy chúng tôi thấy nó na ná hình con rùa. Con rùa đẻ ra trứng vàng một người nhận xét. Chẳng ngờ câu nói ấy lại là sự bắt đầu cuộc trò chuyện của cánh nhà văn quân đội chúng tôi với bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Hạnh Phúc. Thôi chẳng cần bàn ghế sang trọng nghi thức gì nữa chủ khách đứng bên nhau trao đổi. Nguyễn Hạnh Phúc đứng trước tấm bản đồ Tỉnh không sách vở tài liệu gì hết cứ thế nói vo càng nói càng sôi nổi. Thái Bình có 54 cây số bờ biển thuộc hai huyện Thái Thụy Tiền Hải là một lợi thế lớn. Tương lai Thái Bình được phác thảo ra đầy triển vọng tốt đẹp với cửa Ba Lạt khu dự trữ sinh quyển thế giới ; Cồn Vành khu du lịch sinh thái hấp dẫn ; với thành phố Thái Bình sẽ là thành phố Y Dược có trung tâm chữa bệnh chất lượng cao khi liên kết với Singapo ; với vùng nông thôn mới lấy việc sản xuất giống xuất khẩu làm mũi nhọn ; với 5 khu công nghiệp trong chiến lược lấn biển đang mời gọi đầu tư ; với đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng thủy hải sản dệt may mộc...Liên kết với các tỉnh để làm du lịch là một định hướng của Thái Bình. Có hàng nghìn di tích lịch sử ở Tỉnh trong đó không thể không kể tới chùa Keo và khu đền thờ các vua Trần... Thái Bình từng nổi tiếng với rối làng Nguyễn chèo Đông Hưng. Làng Khuốc từ người già đến trẻ nhỏ đều biết hát chèo. Sáng rối tối chèo nếu khéo tổ chức biết đâu những hình thức văn nghệ dân gian có từ nghìn đời này sẽ thu hút được du khách bốn phương...

Vâng còn nhiều lắm những gian nan trên con đường đi tới tương lai. Và không thể không khắc sâu bài học dân chủ từ vụ việc rối ren ở Thái Bình năm 1997. Nhân dân được làm chủ thực sự đó chính là chìa khóa của sự ổn định và phát triển. Người Thái Bình tài giỏi và nhiệt huyết. Lòng nhiệt huyết như lửa vậy nhưng sự cháy thì không phải bao giờ cũng giống nhau không phải lúc nào cũng hữu ích cho cuộc sống. Không phải ngẫu nhiên mà cụm từ « an ninh nông thôn » lại được nhắc đến trong các cuộc trao đổi của chúng tôi với nhiều cán bộ ở Thái Bình.

Những người lính cầm bút mong cho Thái Bình muôn thuở thái bình và bay lên.

alt

                          

More...

Quán thơ ở cuối dòng sông: Trên cánh đồng quê

By Sinh ở cuối dòng sông

alt

TRÊN CÁNH ĐỒNG QUÊ

 

Cuối ngày

đủng đỉnh trâu về

Cưỡi trâu

Cưỡi cả con đê cỏ vàng

Hai sừng đã chạm cổng làng

Bốn chân

bì bõm chưa sang khỏi chiều.

Cái đuôi

sau rốt vòng vèo

Còn vung vẩy nốt

chút heo may đồng.

                      Đỗ Vinh

Lời bình của Nguyễn Hữu Quý

Với bài thơ này tác giả Đỗ Vinh đã được trao giải nhì (không có nhất) trong cuộc thi Sáng tác văn học vì trẻ em do Ủy ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em Việt Nam Hội Nhà văn Việt Nam và UNICEP tổ chức năm 2001. Bài thơ như một bức ký họa ít nét nhưng đẹp và lạ về cánh đồng quê. Những hình ảnh quen thuộc của đồng quê đã được tác giả lạ hóa một cách khéo léo tài hoa do vậy đã tạo được ấn tượng thú vị cho người đọc.

Trước hết nói về thể loại thơ: Đọc "Trên cánh đồng quê" chắc ta không khó nhận ra bài thơ này được làm theo thể lục bát ( còn được gọi là thơ sáu tám). Thông thường tác giả có thể viết thế này: "Cuối ngày đủng đỉnh trâu về / Cưỡi trâu cưỡi cả con đê cỏ vàng…" Nhưng ở bài này Đỗ Vinh đã phá lệ ngắt 2 câu lục và bát thành 4: "Cuối ngày / đủng đỉnh trâu về / Cưỡi trâu / Cưỡi cả con đê cỏ vàng". Đây là một sự cố ý nghệ thuật. Mỗi câu thơ có một điểm dừng ngắn tựa như một dấu lặng để tạo ra tiết tấu 2/4 và 2/6 đủng đỉnh thong dong không giống tiết tấu 6/8 nhanh nhanh thường thấy nữa. Những cặp lục bát sau cũng thế giữ chủ đạo vẫn là tiết tấu 2/4 và 2/6. Hiện lên trước mắt ta một cánh đồng quê thoáng đãng cuối chiều với những mục đồng ung dung thong thả cưỡi trâu về nhà trong tiết heo may se se gió.

Tuy nhiên điều đáng nói nhất ở bài thơ này là sự lạ hóa những cảnh vật quen thuộc. Đọc 3 câu thơ đầu tiên: "Cuối ngày / đủng đỉnh trâu về / Cưỡi trâu…" ta chưa thấy cái lạ xuât hiện; mới chỉ là thông báo về thời gian và sự vật. Đến câu thứ 4: "Cưỡi cả con đê cỏ vàng" thì cái lạ đã lấp ló. Cháu chắt chút chít của Phù Đổng Thiên Vương – những chú bé chăn trâu- tự dưng được cao lớn thêm rất nhiều về vị thế tầm vóc. Cái quen: cưỡi trâu nhờ sự liên tưởng ngộ nghĩnh hồn nhiên (một yếu tố rất quan trọng của thơ thiếu nhi) của nhà thơ biến  thành cái lạ: "cưỡi cả con đê cỏ vàng". Hình ảnh chú bé cưỡi trâu đi trên đê làng đã được lạ hóa như thế.

Nhưng cái sự lạ hóa  đạt đến đỉnh của bài thơ này là ở việc miêu tả hình ảnh con vật đầu cơ nghiệp của người nông dân chân lấm tay bùn một nắng hai sương muôn thuở: "Hai sừng đã chạm cổng làng / Bốn chân / bì bõm chưa sang khỏi chiều. / Cái đuôi / sau rốt vòng vèo / Còn vung vẩy nốt / chút heo may đồng". Thực lòng mà nói thì cái hay của đoạn thơ này không dễ phân tích rành rọt mà chỉ cảm nhận được rằng: con trâu trong thơ Đỗ Vinh bỗng trở nên huyền ảo kỳ lạ; nó gánh trên mình không gian thời gian cùng những sắc màu thanh âm thân thiết quen thuộc của làng quê từ chiếc cổng làng phong rêu đến tiếng bì bõm vang lên từ mặt ruộng chút nắng vàng sót lại và tiết heo may của cánh đồng mùa thu. Tần suất từ lấp láy (bì bõm vòng vèo vung vẩy) xuất hiện khá dày góp phần làm cho bài thơ mềm mại gợi hình gợi cảm hơn và mang phong vị truyền thống rất rõ rệt.

Buổi chiều đồng quê vừa quen vừa lạ ấy mới dùng dằng níu náu đáng yêu làm sao.

 

More...