Sign up

Chiều chiều

nguyenhuuquy | 08 November, 2009 07:19

 

Nguyễn Hữu Quý

CHIỀU CHIỀU


Quên đi mình bị nhầm lẫn

Quên đi mình bị trả thù

Quên đi mình bị bôi bẩn

Quên đi mình bị đẩy xô


Mở trang giấy trắng lặng tờ

Chiều chiều

Có một con BÒ gặm TA...

                                            

Thế giới tội phạm trong "Phiên bản"...

nguyenhuuquy | 08 November, 2009 07:11

 






THẾ GIỚI TỘI PHẠM

trong

PHIÊN BẢN (*) CỦA NGUYỄN ĐÌNH TÚ


Sau các tiểu thuyết Hồ sơ một tử tù, Bên dòng Sầu Diện, Nháp nhà văn Nguyễn Đình Tú thêm lần nữa chứng tỏ khả năng nổi trội và sung sức của mình ở thể loại này với Phiên bản. Cuốn tiểu thuyết dày 400 trang (khổ 13 x 20,5) viết về thế giới tội phạm này có sức cuốn hút người đọc không chỉ ở cốt truyện hay, thủ pháp mới mẻ mà còn ở việc phân tích tâm lý nhân vật có chiều sâu khá ám ảnh. Sự rùng rợn kinh hoàng của xã hội giang hồ được phơi bày trần trụi trên nhiều trang sách cùng với những trăn trở day dứt, khát khao rất người được mô tả, mổ xẻ đầy tình lý. Lối tả thực, rất thực cuộc sống xen lẫn với những ảo mộng, tâm linh cùng với lối dẫn chuyện bằng những ngôi khác nhau làm cho Phiên bản vừa truyền thống vừa hiện đại và điều quan trọng nhất là nó dẫn dụ hấp dẫn người đọc một cách rất tự nhiên.


Điều nhận ra ngay: Phiên bản của Nguyễn Đình Tú là một tiểu thuyết luận đề với nội dung Tội phạm dưới giác độ địa văn hóa. Thông qua hệ thống nhân vật trong thế giới giang hồ anh muốn lý giải con người phạm tội trong mối quan hệ của họ với các yếu tố địa văn hóa. Chẳng phải vô tình mà cụm từ vùng đất nghịch cứ trở đi trở lại nhiều lần trong tiểu thuyết và hình ảnh con Giao Long trong cổ tích luôn là nỗi ám ảnh kinh hoàng của nhân vật chính Diệu - Hương Ga.


Cái vùng đất mà Diệu (Hương Ga - nữ hoàng đen) sinh ra và lớn lên vốn là bãi bồi ven biển, xa đất kinh kỳ, cách biệt các châu huyện. Trước tiên là những vạn chài bám lấy các cửa sông. Rồi đến đám trộm cắp chọn xứ này làm nơi trú ẩn. Qua các thời kỳ lịch sử đây là nơi dung thân của những đoàn dân binh chống lại quan châu quan huyện, những đám cướp vùng biên ải bị tầm nã trôi dạt về, những kẻ thất thế chốn quan trường, hay triều chính đổi thay mà thành dư thừa phản nghịch, những bậc hào kiệt có chút nghĩa khí hoặc bất đắc chí...Tóm lại đây là đất của những kẻ chống đối. Mà kẻ chống đối ở đây rất đa dạng, rất nhiều thành phần, từ bậc thức giả đến lũ lưu manh, từ đám lưu vong bên Tàu, bên Xiêm La, bên Chiêm Thành đến những phần tử dị bang ngoài biển dạt vào. Đến thời Pháp thuộc thì thành phố Ngã ba sông này là vùng đất đầu tiên ở nước ta được xây dựng, được hưởng cái văn minh mới lạ của người Tây Dương nên cùng với nhà ga, bến cảng, đường cái, những khu phố mọc lên là những ổ nhóm lưu manh khét tiếng tụ về...Ăn trộm, ăn cướp, đĩ điếm, đâm chém, giết người năm nào cũng có, thời đoạn nào cũng có, đời ông nào làm lãnh đạo cũng có, mà nữ còn ghê gớm hơn nam, nữ dí súng vào đầu người khác, bắn chết tươi đành đạch là chuyện không hiếm ở đất này. Diệu vốn là một nữ sinh trong trắng, hiền lành. Tình cảm đầu đời của cô đối với Nhân (sau này là công an) thời đi học phổ thông tuy chưa nhiều nhưng thật thơ mộng và đáng yêu biết bao. Có lẽ, cái phần trong trẻo nhất, tinh khôi nhất, đẹp đẽ nhất của đời Diệu là ở đó. Mối tình học trò chưa được đặt tên ấy đã đi suốt cuộc đời của Diệu dù sau này cô trở thành nữ hoàng đen một nhân vật có số má khét tiếng trong giới giang hồ ở thành phố Ngã ba sông và trong cả nước. Tình cảm của Nhân như ánh trăng huyền bí thấp thoáng soi rọi tâm can Diệu nhưng tiếc thay nó không thay đổi được số phận hãi hùng của cô. Có lẽ, cái hung khí, tà vía của vùng đất đã nhập vào Diệu, đưa đẩy cô vào những trạng huống bi đát, ghê gớm mà người con gái mảnh mai ấy không tài nào thoát ra nổi. Cuộc đời Diệu: mười sáu tuổi theo cha mẹ xuống tàu vượt biên trong khi anh trai đang ở tù vì tội giết người, gặp cướp trên biển bị hãm hiếp nhưng may mắn thoát chết cùng với hai người khác (ông Trượt và thằng bé Chín tháng) trong khi gần trăm người kể cả bố mẹ mình bị giết, về nhà sống với bà bằng nghề bán hương ở chợ Ga nhưng lại bị chèn ép hạ nhục...rồi như số mệnh đã định đoạt, như một thân phận đã được mã hóa vào gen, từng bước, từng bước cô dấn thân vào thế giới giang hồ khốc liệt để mau chóng trở thành một nữ hoàng đen khét tiếng.


Cái xã hội giang hồ, thế giới tội phạm ấy thật hãi hùng rùng rợn với những nhân vật Tùng hê rô, Tân, Hoàng lợn, Cộc ba tai, Tuấn chợ, Phát anh, Phát em, Mỹ chột, Vĩnh con, Châu điên, Lân sói, Hưng mã, ông Trùm, Nam thái tử... và cả người công an bị thoái hóa biến chất như Đinh. Nó cuồng quay trong cơn lốc chém giết, cướp bóc, trả thù, lừa đảo, chiếm đoạt. Cái lát cắt lầy nhầy máu mủ của hiện thực đời sống ấy hiện lên trong Phiên bản thật rõ nét với nhiều cung bậc khác nhau nhưng xuyên suốt vẫn là sự tác oai tác quái của cái ác, của thói ích kỷ bạo tàn, của những chà đạp vô luân, của những ngang ngược... Mạng sống và cả đạo đức con người bị coi rẻ, sự thiện lương bị chèn ép, đàn áp. Mặt khác, trong xã hội đen ấy còn có cái ác đối đầu với cái ác, cái ác hành hạ cái ác, cái ác thủ tiêu cái ác và đau đớn thay cho loài người cho đến nay cái ác vẫn tồn tại, tội phạm vẫn tồn tại như một phần của cuộc sống. Cái ác song song có mặt cùng với cái thiện trong xã hội và hình như ánh sáng văn minh chưa dọi thấu tới mấy thế giới hỗn tạp tàn nhẫn này và lòng tốt cũng chưa cảm hóa được nhiều những tay giang hồ có số má hay là kẻ đao búa hạ đẳng.


Thế giới giang hồ ôm vào nó nhiều dạng tội phạm, nhiều thứ bậc khác nhau. Phiên bản của Nguyễn Đình Tú cho ta thấy khá rõ điều đó; ở đây người đọc được thấy những nhân vật giang hồ hạ đẳng kiểu đao búa côn đồ gặp người là đánh thấy của là cướp đến những kẻ thích tự sát bất tri lý coi thường công an, chính quyền chống lại người thi hành công vụ; loại như bị ma quỷ xui khiến chuyên dùng thuốc để có bản lĩnh chém giết và cao nhất là lớp siêu giang hồ hội tụ ba đặc điểm sau: biết lợi dụng mặt trái của công quyền, biết ra lệnh chứ không thực hiện, biết làm giàu và biết làm phúc. Vậy thì lối thoát của nó ở đâu? Luật pháp? Giáo dục? Tôn giáo? Xã hội? Gia đình? Đây thực sự là một thách thức với nhân loại nói chung và đất nước ta nói riêng.


Hành trình khai sáng cho thế giới tội lỗi ấy thật gian nan và phức tạp biết bao. Bóng trăng trong Phiên bản là một hình tượng ẩn dụ độc đáo, đa nghĩa. Nó vừa là Nhân ( như đã nói ở trên) vừa là ánh sáng công quyền. Nó thấp thoáng, ẩn hiện trong cuộc đời của Diệu khi như là vệt hồi ức đẹp của tuổi thiếu nữ, khi là đại biểu của bộ máy thi hành luật pháp xã hội. Nó giúp ta thấy rõ hơn, sâu hơn những nguyên do, những giằng xé, cả những ân hận sám hối trong nội tâm một tội phạm như Diệu. Chỉ thế thôi. Ánh sáng ấy thật đẹp, thật công minh nhưng nó chưa cứu được Diệu thoát khỏi bi kịch cuộc đời, không đưa được Diệu trở lại thế giới lương thiện của loài người. Diệu đã chết vì hai viên đạn của một tay giang hồ tội phạm khác cũng như Hưng mã, Tuấn chợ đã từng bị chết bởi bàn tay nữ hoàng đen này. Tại sao thế? Một câu hỏi nhức nhối không dễ trả lời.


Thực ra trong Phiên bản, cái gọi là yếu tố văn hóa tác động vào quá trình phạm tội hoặc giác ngộ của những kẻ giang hồ không rõ lắm. Tôi quan tâm đến sự ám ảnh của câu chuyện cổ tích về con Giao Long đối với Diệu. Hình ảnh bà lão giết nhầm con nuôi của mình là Giao Long trắng ở suối Mô Cuống để cuối cùng phần thắng thuộc về Giao long đen phải chăng lại là một ẩn dụ nữa về sự tồn tại đương nhiên của thế giới tội phạm. Có mối liên hệ nào đấy giữa câu chuyện cổ tích này với cuộc đời của Diệu. Diệu đã đọc nó trên chuyến tàu vượt biên, trước khi xảy ra vụ chém giết của bọn cướp biển và khi cô gái mười sáu tuổi ấy mơ thấy những con Giao Long đầu người trườn từ dưới biển lên thì thảm họa xảy ra. Từ đó về sau, mỗi lần Giao Long xuất hiện là mỗi lần Diệu - Hương ga - nữ hoàng đen giết người. Cái chết của Hưng mã, Tuấn chợ đều có phần tham dự của Giao Long. Chả lẽ, một câu chuyện cổ tích bình thường như thế lại ám ảnh Diệu đến thế. Tác giả gửi gắm vào đây ý tưởng gì? Ai cũng biết truyện Giao Long không nổi tiếng và quen thuộc bằng những Trầu cau, Bọc trăm trứng, Cây khế...Những câu chuyện cổ tích Việt Nam kể trên đều rất có hậu còn Giao Long thì kết thúc thật buồn, thật bi đát. Thêm một lần nữa, Phiên bản muốn làm rõ luận đề: cái ác chưa bao giờ mất đi, nó luôn luôn song tồn với cái thiện cũng như trong xã hội loài người bên cạnh thế giới hiền lương có thế giới tội phạm. Trắng - Đen. Sáng - Tối. Tốt - Xấu. Hai mặt đối lập ấy đan cài xen lẫn vào nhau, trong xã hội và trong từng con người. Trong từng cá thể người có cả mầm thiện và mầm ác. Những cái mầm ấy gieo đúng vào mảnh đất lành thì cái thiện sẽ thắng thế cái ác bị kiềm chế và nếu nó bị gieo vào vùng đất dữ thì hệ quả sẽ ngược lại. Cuộc va đập, đấu tranh giữa hai thế giới này còn phức tạp gian khó bội phần. Xây dựng một xã hội công bằng với nền văn hóa cao chính là nền tảng, tiền đề để con người gạn đục khơi trong sống tốt đẹp. Thông điệp trong Phiên bản của Nguyễn Đình Tú phải chăng là thế.

         
Nguyễn Đình Tú ngày càng vững vàng hơn trong sáng tác tiểu thuyết. Phiên bản của anh có một cốt truyện hay với cấu trúc vững chãi, văn phong lưu loát. Nó hấp dẫn hơn bởi cách sử dụng ba ngôi kể khác nhau; khi là Thị nhằm trần thuật diễn biến sự việc, khi là Em để đi sâu vào mạch nội tâm như dòng giãi bày tâm sự, khi là Ta như là sự đối chất, biện minh với xã hội, với cuộc sống trong hành trình tìm về lương thiện. Tôi nghĩ Nguyễn Đình Tú khá thành công trong xây dựng nhân vật Diệu - Hương Ga. Một nhân vật có những đường nét riêng và chiều sâu nội tâm khá ám ảnh. Một bi kịch cuộc đời đáng thương hơn là đáng trách; những sa ngã thoái hóa của Diệu có phần tác động rất lớn của gia đình và xã hội.


Qua những Hồ sơ một tử tùPhiên bản, Nguyễn Đình Tú chứng tỏ vốn hiểu biết sâu rộng về thế giới tội phạm và vượt qua việc phản ánh hiện thực sinh động, anh đã chạm tới những dòng chảy ngầm, những lưu vực đầy bí ẩn của nó. Cái đích của Phiên bản không nhằm kể lại những gì anh đã ghi chép được từ cuộc sống mà cao hơn phải đưa nó vào ánh xạ của giao thoa giữa tình cảm và lý trí con người. Những mảng sáng tối, mờ tỏ đan xuyên vào nhau, thực và ảo tạo ra sự mung lung, mơ hồ trong cảm thức và suy tưởng của người đọc. Chưa có, không có một kết cục duy nhất, hậu lượng mà tất cả đang dang dở, ngổn ngang với những đối lập, tranh chấp, sinh tử như cuộc sống bây giờ. Con người là những phiên bản nhiệm màu của Chúa. Chính vì thế lý giải về sự nhiệm màu là những cố gắng vô ích nhưng tôi vẫn đang vô ích trong sự lý giải con người. Suy nghĩ mang tính chiêm nghiệm ấy có phải là sợi chỉ xuyên suốt trong vật vã của Nguyễn Đình Tú để anh có một Phiên bản ra mắt bạn đọc hôm nay?

                                               Đồng Xa, cuối tháng 10.2009

                                                     NGUYỄN HỮU QUÝ

(*) Tiểu thuyết của Nguyễn Đình Tú - NXB Công an nhân dân , H.2009.

Mấy kỉ niệm nhỏ với Khoa Viết văn

nguyenhuuquy | 23 October, 2009 07:18

 

MẤY KỶ NIỆM NHỎ VỚI KHOA VIẾT VĂN


Tôi không có nhiều kỷ niệm với Trường Viết văn Nguyễn Du. Đơn giản, chỉ vì tôi chưa từng là sinh viên của Trường. Ở Tạp chí Văn nghệ quân đội nơi tôi làm việc bây giờ có khá nhiều nhà văn, nhà thơ từng học ở đây. Nếu tôi không nhầm thì các anh Lê Lựu, Chu Lai, Nguyễn Trí Huân, Nguyễn Đức Mậu, Trung Trung Đỉnh và cả Trần Đăng Khoa... nữa đều là cựu sinh viên Trường Viết văn Nguyễn Du. Các anh đã thành danh và ai cũng vô cùng nổi tiếng gần xa. Một thế hệ mới hơn đang là lực lượng nòng cốt của Văn nghệ quân đội như Nguyễn Bình Phương, Đỗ Tiến Thụy, Nguyễn Thế Hùng, Phùng Văn Khai, Nguyễn Mạnh Hùng cũng đã có bốn năm tu nghiệp tại Trường này.


Dăm năm gần đây tôi được khoa Sáng tác và lý luận phê bình văn học ( chúng tôi thường gọi tắt là Khoa Viết văn)  mời đọc thẩm định, nhận xét tác phẩm định kỳ của sinh viên và chấm tác phẩm của thí sinh dự thi vào Khoa. Trước tiên, xin được nhắc lại cái cảm giác vui vui xen lẫn ngại ngần khi phó giáo sư tiến sĩ, nhà văn Văn Giá mời tôi đọc thẩm đinh và nhận xét tác phẩm định kỳ cho sinh viên. Vui, chẳng lẽ nào không vui khi được làm thầy. Thời còn đi học phổ thông tôi mê nghề sư phạm lắm. Ước mơ của tôi là được làm thầy giáo dạy văn nhưng thời cuộc đã đưa tôi vào con đường binh nghiệp khi mới 18 tuổi. May là còn được Quân đội cho đi học đại học tổng hợp văn sau khi đã mang quân hàm thiếu úy rồi làm thơ viết báo, rồi lại được về Nhà số 4 từ đầu năm 1997 cho tới nay. Ngại ngần vì tôi nghe đồn rằng sinh viên viết văn gớm lắm. Người ta bảo, bọn ấy khi chưa vào Trường không biết Nguyễn Du là ai nhưng khi tốt nghiệp rồi thì coi Nguyễn Du cũng chẳng ra gì. Nếu đúng vậy thì kinh thật! Ngại lắm nhưng khi  nghe trưởng khoa Văn Giá thủ thỉ tôi cũng xuôi lòng và tự xác lập phong cách làm việc của mình là thẳng thắn và thân tình. Nghề viết nhọc nhằn và công phu lắm; ai cũng có lối đi riêng của mình, đâu dễ thấu hiểu nhau, thôi thì ta cùng trao đổi, cùng học nhau các em nhé. Tôi chân thật nói ra điều ấy với các sinh viên. Những buổi trả bài cho sinh viên thật hào hứng. Nhận xét của tôi đối với tác phẩm của từng sinh viên ( thơ) phần lớn đều được chấp nhận. Có trường hợp thầy và trò cùng phân tích lại, phân tích thêm để gần nhau hơn trong cảm nhận. Đừng cho rằng các em sợ thầy nên không cãi lại. Tôi cho rằng hầu hết những người cầm bút đều rất thẳng thắn và bộc trực không dễ áp đặt ý nghĩ chủ quan của mình cho họ đâu. Sinh viên viết văn cũng thế, tuy họ chưa thành danh nhưng cái chất văn sĩ ấy đã có trong máu rồi. Thật đấy!

Mừng thay, qua mấy năm làm việc với sinh viên viết văn tôi nhận thêm được những tình cảm trong sáng đẹp đẽ của các em dành cho mình; đã có thêm nhiều bạn viết, bạn đọc thân thiết, tin cậy. Không ít sinh viên Khoa Viết văn đã trở thành cộng tác viên tích cực của trang thơ Văn nghệ quân đội như Hoàng Chiến Thắng, Đoàn Văn Mật ( nay được lấy về làm biên tập thơ VNQĐ), Đàm Thùy Dương, Yên Khương, Vũ Thị Huyền Trang, Nguyễn Quang Việt, Hoàng Thuấn, Võ Ánh Hồng, Cát Miên, Hồ Huy Sơn...Mỗi khi có tập thơ định xuất bản một số em đã đến nhờ tôi đọc bản thảo hoặc viết lời giới thiệu như Hoàng Chiến Thắng, Cát Miên, Hoàng Thuấn...Kỳ thực các em sinh viên viết văn cũng hiền lành, cầu thị và đáng yêu đấy chứ. Có em còn đưa nhận xét của tôi trong các buổi trả bài lên blogs của mình nữa chứ.


20 tháng 11 năm nào, tôi cũng nhận được thiệp chúc mừng và hoa của Khoa, với lời đề tặng rất trang trọng, Chúc mừng Thầy nhân ngày Nhà giáo Việt Nam. Tấm thiệp và bó hoa nhỏ bé mà tình nghĩa và chu đáo làm sao.


À quên. Còn có một kỷ niệm hay hay này nữa. Cách đây mấy năm, trong một đêm đông giá buốt tôi với nhóm sinh viên viết văn gồm Đỗ Tiến Thụy, Nguyễn Thế Hùng, Nguyễn Toàn, Quỳnh Vân, Yên Trang...và nhà văn Đỗ Văn Nhâm, nhà văn Diệp Mai (đang học cao học) ngồi nhậu la đà với nhau. Lý do bữa nhậu là để tiễn Diệp Mai ngày mai về Kiên Giang ăn Tết. Giữa bữa nhậu, Đỗ Tiến Thụy bỗng dưng...muốn Nguyễn Hữu Quý tức cảnh làm một câu thơ tặng Diệp Mai. Rượu đã lâng lâng, một bên là Nguyễn Toàn đầu hói như cụ ôm ghi-ta phập phèng, một bên là Quỳnh Vân (biệt danh Hoa Ngâu) nghiêng nghiêng ngã ngã, trước mặt là Diệp Mai mắt đen lay láy, tôi chợt thăng hoa đọc lên cặp câu lục bát huê tình:

Em về mang rét về không

Để anh cởi áo sông Hồng gởi theo.

Một phút im lặng. Và, sau đó có người thốt lên, chà câu thơ hay thật. Đỗ Văn Nhâm, Đỗ Tiến Thụy, Nguyễn Toàn, Nguyễn Thế Hùng, Yên Trang gật gật đầu vỗ tay tán thưởng. Chỉ có Quỳnh Vân không còn nghiêng nghiêng ngã ngã như trước đó nữa. Sao thế em?

Nguyễn Hữu Quý



Một góc "Ngày thơ Việt Nam" tại Khoa Viết văn Đại Học Văn hóa Hà Nội

Chúc mừng ngày 20.10 - Ngày Phụ nữ Việt Nam.

nguyenhuuquy | 20 October, 2009 06:59




Thì nào, uống với mắt bồ câu
uống với mắt lá răm
uống với những số đo của vòng 1, vòng 2, vòng 3 quyến rũ
uống với những xinh tươi nồng nàn không làm cho thơ thất thế
Hoa khôi nhiều thế kia, thơ làm sao chịu chết
thơ không còn em sẽ đẹp cho ai?

(Trích từ bài thơ Uống-Nguyễn Hữu Quý)

Thằng Cuội

nguyenhuuquy | 14 October, 2009 10:06


  Nguyễn Hữu Quý


THẰNG CUỘI


Nói dối để lưu danh
thằng Cuội khôn hơn người


Nói dối rồi lên trăng
Cuội cao hơn trái đất


Bao nhiêu người nói thật
lăn lóc dưới đáy đời.


Nhâng nhâng bầy nói dối
đâu một thằng Cuội ranh!

                    

Người chăm sóc làm dịu những đớn đau

nguyenhuuquy | 12 October, 2009 14:01

 

NGƯỜI
CHĂM SÓC LÀM DỊU
NHỮNG ĐỚN ĐAU

(Mấy cảm nhận khi đọc Chết như thế nào * của Phạm Nguyên Tường)

Nguyễn Hữu Quý


Tôi mượn thuật ngữ chuyên ngành y học ( Chăm sóc làm dịu = Pallative Care) để đặt tít cho bài viết của mình bởi Phạm Nguyên Tường là một bác sĩ điều trị bệnh ung thư giỏi. Tuy rằng, nhiều người biết đến cái tên Phạm Nguyên Tường với tư cách là nhà thơ trẻ, chủ tịch Hội Nhà văn Thừa Thiên - Huế hơn là một Phạm Nguyên Tường đang bảo vệ luận án tiến sĩ y khoa. Bận rộn biết bao với việc điều trị, học hành anh vẫn không buông lơi chuyện sáng tác nhờ thế đến nay đã có 3 tập thơ: Hoa cúc mùa thu (1994); Lá tháng chạp ( 1998); Quang gánh và những bài thơ khác ( 2006) và 1 tập ghi chép: Chết như thế nào (2009) trình làng. Tập văn xuôi đầu tiên này của Tường không dày dặn, chỉ có hơn trăm trang in khổ 12 x 20 gồm 12 ghi chép về công việc chữa trị chăm sóc bệnh nhân nan y và những chuyến đi trong và ngoài nước của anh. Một cách thể hiện trung thực, sống động, day dứt, đầy cảm thông chia sẻ trước những bất hạnh đớn đau của con người. Cũng chính vì thế mà tôi gọi Phạm Nguyên Tường là người chăm sóc làm dịu những đớn đau.

         
Những đớn đau về thể xác và cả tâm hồn của con người. Những con người cụ thể; họ là bệnh nhân, là bạn thơ, bạn đời của Tường, những người Mỹ, người Bỉ, người Singapo, những Việt Kiều anh đã gặp...Anh thủ thỉ kể về họ trong những cảm nhận sâu sắc về thân phận và ý thức san sẻ rõ ràng, không li kỳ rườm rà, không cao siêu bóng bẩy, mà vẫn thấm thía nhân văn như thổ lộ của Tường, Cuộc đời hành nghề của tôi đã gắn với những giọt nước mắt của biết bao phận đời, phận người. Như những giọt nước mắt bằng sứ trong tác phẩm sắp đặt của Jason Lim ngày nào, đổ từ giếng trời xuống, mỗi một lần lại găm buốt tâm can. Tôi thuộc về nơi ấy.

 (Xem tiếp)

Độc huyền cầm Hà Nội

nguyenhuuquy | 11 October, 2009 09:35

 


Nguyễn Hữu Quý

ĐỘC HUYỀN CẦM HÀ NỘI


Sao lại một dây

sao chỉ một dây

em độc huyền cầm ngân rung Hà Nội

nghìn năm, nghìn năm, giai nhân vẫn thế

vận vào sương khói bay bay...


Sương khói Hồ Gươm, sương khói Hồ Tây

mênh mang, mênh mang, mênh mang thiên kỷ

giọt giọt thời gian, muôn vàn thao thức

thăng trầm bao phen tóc xanh, đầu bạc

giữ một ca trù thống thiết xưa - nay.


Hồng Hà đầy vơi khai sinh châu thổ

này lúa, này hoa - cung bậc mùa màng

một dây gánh gồng thi ca thánh thót

chữ sáng sao Khuê, lời quê góp nhặt

Thánh hiền - Dân dã - rạng một Thăng Long

chìm vào lòng đất, tạc vào hồn giấy

còn đây!


Nghe như lửa reo, nghe như gió cháy

thịnh - suy vận Nước, mờ - tỏ mệnh Trời

đầm đìa lệ rơi, đầm đìa máu rơi

đầm đìa núi chảy, đầm đìa sông trôi

trống rỗng kinh thành lấp đầy bóng giặc

một dây nức nở độc huyền cầm vỡ

một cơn hồng thuỷ trôi dạt trên tay...


Ngoảnh lại mấy phen ngựa đá lấm bùn

bao đận binh đao gót người tứa máu

ra đi - trở lại, hồng sắc đào xuân

gẩy lên Trời tròn, gẩy lên Đất vuông

bánh chưng, bánh dày xum xuê tiếng trẻ

36 cung bổng trầm tri kỷ

dành cho nhau sau trận mạc chia ly

gươm báu trả Thần, súng thiêng trăng đậu

vượt nỗi bể dâu thanh lịch vẫn đầy


Nào ai xưa cũ về đây

chiếu gon trải nắng chiều thu

hoa văn nghìn tuổi mới như lọt lòng

thành quách ai dựng trong sông

vô danh vạn kiếp có - không

trầm tích mấy nẻo rêu phong hiện về

Hà Nội phố, Hà Nội quê

dễ chi mua được thói lề

Người Hà Nội với câu thề Thăng Long!


Ba Vì mây trắng, nước đỏ sông Hồng

độc huyền cầm em ngân rung bát ngát

thắm thiết muôn đời trái tim Đất Việt

nào ai đi đâu, nào ai về đâu

dạo bước La Thành, Hồ Gươm soi mặt

non nước bốn mùa quây quần Lăng Bác

nghìn năm mộng mơ, nghìn năm chân thực

nghìn năm giặc giã, nghìn năm hoà bình

nghìn năm thảo dân, nghìn năm tướng sĩ...

Rồng thiêng lộng lẫy một dáng vút lên!


                                Nhà số 4, Hà Nội 1.1.2009

































Tôi có ý kiến:

nguyenhuuquy | 10 October, 2009 08:46

 

THÔN QUYẾT THẮNG

CẦN CÓ MỘT TƯỢNG ĐÀI

THANH NIÊN XUNG PHONG

Nguyễn Hữu Quý


Xã Thanh Trạch, một vùng quê sơn thủy hữu tình nằm ở cuối dòng sông Gianh lịch sử. Trong những ngày chiến tranh chống Mỹ ác liệt mảnh đất này được mệnh danh là Lũy thép nam sông Gianh của quê hương Hai giỏi Quảng Bình. Cảng Gianh là nơi xuất phát của những chuyến tàu không số đầu tiên; những người lính quả cảm dưới tấm áo ngụy trang của Tập đoàn đánh cá Thanh Khê đã âm thầm vượt bão gió ra khơi đưa vũ khí vào Nam. Đây cũng là nơi diễn ra cuộc đọ sức ác liệt đầu tiên giữa những con tàu chiến bé nhỏ của hải quân ta với máy bay phản lực hiện đại của giặc Mỹ vào ngày 5 tháng 8 năm 1964. Cảng Gianh, phà Gianh, cầu Khe Nước, cống Mười, quốc lộ 1A, đèo Lý Hòa...là những địa danh nổi tiếng khốc liệt trong cuộc đọ sức với chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ở miền Bắc. Những địa danh ấy nhiều bạn bè gần xa đã biết tới nhưng có một nơi thuộc xã này ghi dấu sự hi sinh to lớn của thanh niên xung phong (TNXP) tôi tin nhiều người chưa tường tận. Đó là thôn Quyết Thắng, nơi 156 thanh niên xung phong và công nhân cảng Gianh đã ngã xuống trong trận oanh tạc của máy bay Mỹ vào ngày 13 tháng 1 năm 1973.


Dẫu sự kiện đã lùi xa 36 năm nhưng ngày bi tráng ấy không bao giờ phai trong hồi ức của những người dân Thanh Trạch đã từng chứng kiến và nó còn được kể lại cho các thế hệ trẻ hôm nay. Đấy là một ngày đầu xuân; chỉ còn ít hôm nữa thôi Hiệp định Pa ri về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam sẽ được ký kết. Cảnh Một trời êm ả xanh không tưởng / Mặt đất bình yên giấc trẻ thơ với miền Bắc như nhà thơ Tố Hữu viết sẽ thành hiện thực. Như thường ngày, đơn vị thanh niên xung phong Cù Chính Lan, cán bộ công nhân cảng Gianh - Đoàn 309 làm nhiệm vụ bốc vác vận chuyển hàng hóa từ các tàu thuyền vào kho chuẩn bị cho đợt chi viện mới vào miền Nam trong dịp đình chiến sắp tới. Từ tinh mơ, máy bay trinh sát, phản lực Mỹ đã quần đảo trên bầu trời xã Thanh Trạch để tìm mục tiêu và thay nhau ném bom, bắn rốc - két, đạn 20 ly xuống cảng Gianh, bến phà 1, bến phà 2, đồn biên phòng...Chúng muốn tìm phá các kho hàng hóa và chặn các nẻo đường giao thông của chúng ta qua vùng đất này. Đến 8 giờ sáng, nhiều tốp máy bay F4H, F105 tập trung ném bom xuống cầu Cống Bốn, Cống Mười hòng cắt đứt đường quốc lộ 1A đoạn qua xã Thanh Trạch. Đã có mấy loạt bom tạ, bom sát thương bay chệch vào thôn Quyết Thắng làm cho một số hầm bị sập, dân bị chết bị thương. Sau 4 giờ bắn phá ác liệt trên diện rộng, máy bay Mỹ rút đi. Kẻng báo yên vang lên, các đơn vị công tác ở cảng Gianh, dân quân tự vệ cấp tốc chuyển người bị thương từ nơi bị máy bay Mỹ oanh tạc về cấp cứu tại trạm y tế dã chiến đóng ở xóm Dừa ( HTX Quyết Thắng). Đây cũng là lúc các TNXP, công nhân Cảng tranh thủ về bếp tập đoàn ăn cơm trưa, chuẩn bị sức lực và tinh thần cho đợt bốc vác, vận chuyển hàng hóa chiều và tối nay. Mặc dầu vừa trải qua mấy tiếng đồng hồ đối mặt với bom đạn giặc nhưng không ai nao núng, chùn bước. Xóm Làng và xóm Dừa là nơi trú quân của đơn vị TNXP Cù Chính Lan, công nhân cảng Gianh, bộ đội xăng dầu thuộc binh trạm 16...Trong lúc nhiều thương binh đang được băng bó cấp cứu, TNXP, công nhân Cảng đang bưng bát cơm trên tay thì bất ngờ ánh chớp nhoáng nhoàng, khói bụi mù mịt, đất trời đảo lộn, đêm ngày như xáo trộn vào nhau. Một tốp máy bay F4H đã cắt bom xuống Cống Mười và thôn Quyết Thắng. Chúng đã có tính toán, bom tạ ném xuống cầu đường và bom sát thương thả vào vùng dân cư. Sau loạt bom man rợ, một cảnh tang thương rùng rợn hiện ra trên vùng đất Quyết Thắng. Xóm thôn trước kia tre trúc chuối mít rậm rạp giờ đây xác xơ trơ trụi, cành ngọn gãy gục tơ xướp ám đầy khói bom. Trên các cành tre cháy sém là từng mảnh thịt, núm ruột, cánh tay, khuỷu chân, mảnh quần manh áo bết máu của anh chị em ta. Nhiều thi thể không còn nguyên vẹn, trong đó không ít cô gái trẻ. 156 TNXP, cán bộ công nhân cảng Gianh đã hi sinh trong trận oanh tạc đẫm máu này của máy bay Mỹ. Cũng xin nói thêm, dù đau thương đến tột cùng trước sự mất mát bất ngờ này nhưng chỉ sau 2 giờ các đồng chí TNXP, công nhân Cảng, cán bộ đảng viên, dân quân xã Thanh Trạch đã cấp cứu người bị thương, chôn cất người chết chu toàn. Và, chiều tối đó thì những gói hàng chi viện cho miền Nam thân yêu vẫn được các chiến sĩ TNXP, công nhân Cảng bốc vác vận chuyển sơ tán vào các kho đúng như kế hoạch.


Chi bộ, Chi hội cựu chiến binh, Chi hội cựu TNXP và các tổ chức đoàn thể thôn Quyết Thắng ( xã Thanh Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình) đã lập tờ trình đề nghị xây dựng tượng đài TNXP ở nơi các anh chị đã ngã xuống trong ngày 13 tháng 1 năm 1973. Đó là ngã tư đường từ quốc lộ 1A vào thôn Quyết Thắng.  Tờ trình có đoạn viết: Tượng đài là nơi tưởng niệm tri ân các liệt sỹ, thương binh và nhân dân đã hy sinh xương máu và một phần thân thể vì sự nghiệp chống Mỹ cứu nước của dân tộc...Đồng thời, tượng đài như một tấm bia căm thù, một chứng tích tố cáo tội ác chiến tranh của đế quốc Mỹ.. Tình cảm và ý nguyện của cán bộ và nhân dân thôn Quyết Thắng đã rõ. Sự hy sinh anh dũng của 156 TNXP đơn vị Cù Chính Lan, cán bộ công nhân Cảng Gianh trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước xứng đáng được ghi công bằng một tượng đài linh thiêng tại thôn Quyết Thắng.

                                                                      

Người gióng lên những hồi chuông màu đỏ

nguyenhuuquy | 06 October, 2009 16:49

 

      

NGƯỜI GIÓNG LÊN

NHỮNG HỒI CHUÔNG MÀU ĐỎ             

Những hồi chuông màu đỏ là tập thơ và trường ca viết về liệt sĩ, thương binh của Nguyễn Hữu Quý. Cuốn sách như một tuyển nhỏ gồm 28 bài thơ, trường ca Sinh ở cuối dòng sông và trích đoạn trường ca Vạn lý Trường Sơn. Trong đó có nhiều bài thơ đã dành giải thưởng văn chương cao trong nước như: Bông huệ trắng (Tặng thưởng thơ hay nhất Văn nghệ quân đội 1995), Khát vọng Trường Sơn (Giải nhì-không có giải nhất cuộc thi thơ Văn nghệ quân đội 1996), Cơn mưa rừng chiều nay (Giải nhì-không có giải nhất cuộc thi thơ Tạp chí Cửa Việt năm 1997), Có một Hà Nội ở Trường Sơn  (Giải ba cuộc thi thơ báo Người Hà nội 2005-2006), trường ca Sinh ở cuối dòng sông (Giải thưởng Văn học Bộ quốc phòng 1999-2004). Bài thơ Khát vọng Trường Sơn đã được 3 nhạc sĩ Phạm Tuyên, Võ Thế Hùng, Văn Chừng phổ nhạc thành ba bài hát cùng tên. Bài Trường Sơn tóc dài cũng được nhạc sĩ Trương Tuyết Mai phổ nhạc gần đây.

Người nặng lòng với Trường Sơn hùng vĩ.

Không phải ngẫu nhiên mà Đại tá Ngô Vĩnh Bình - Phó Tổng biên tập Tạp chí Văn nghệ Quân đội lại nói trong bài viết Mang cả Trường Sơn về Nhà số 4 rằng: nếu như nói Phạm Tiến Duật là nhà thơ của Trường Sơn hôm qua thì cũng có thể bảo Nguyễn Hữu Quý là nhà thơ của Trường Sơn hôm nay. Thật vậy! Khi đọc Những hồi chuông màu đỏ ta nhận thấy rằng không phải ai cũng dành nhiều tâm huyết và tình cảm cho Trường Sơn như Nguyễn Hữu Quý. Một nhà thơ đã từng hơn ba mươi năm khoác áo quân nhân, trong đó có gần 20 năm là lính Trường Sơn nên  những trang viết của Nguyễn Hữu Quý in đậm dấu ấn và tấm lòng đối với vùng đất hùng vĩ này.

Trong Những hồi chuông màu đỏ  thì Khát vọng Trường Sơn là một bài thơ xúc động đầy sức mạnh gợi mở, làm sống dậy một thế giới Trường Sơn kỳ tích hào hùng, với những nỗi đau sâu thẳm và khát vọng bao la... Khát vọng Trường Sơn  viết dâng hương hồn 10.000 liệt sĩ ở Nghĩa trang Trường Sơn với những câu thơ bi tráng: Nằm kề nhau / Những nấm mộ giống nhau / Mười nghìn bát hương / Mười nghìn ngôi sao cháy / Mười nghìn tiếng chuông ngân trong im lặng / Mười nghìn trái tim neo ở đầu nguồn... Mười nghìn Trường Sơn trong một Trường Sơn / Mười nghìn lời ca trong bài ca lớn / Mười nghìn cái tên đêm đêm mẹ nhắc / Mười nghìn giấc mơ của mẹ chờ ta / Mười nghìn con đò thương về bến đợi / Mười nghìn hạt giống chưa về phù sa... Nhớ và viết về Trường Sơn, Nguyễn Hữu Quý đã hoài vọng đến những năm tháng không quên, từ một Trường Sơn mười nghìn khát vọng, đến Trường Sơn trong cơn mưa rừng chiều nay khi các anh đưa hài cốt đồng đội trở về với quê hương, với đất mẹ trong rưng rưng của đất trời và con người: Tấm ni-lon dành che hài cốt / Chúng tôi như cây đẫm buốt mưa rừng / Tay đồng đội nâng niu đồng đội / Cơn mưa rừng trào khoé mắt rưng rưng!...Hay nhà thơ chỉ nghe tiếng ve kêu như lửa ở Nghĩa trang Trường Sơn mà nỗi lòng nhức nhối bao mất-còn của dân tộc, ve kêu như tiếng kèn chiêu tập các liệt sĩ về quy tụ: Kêu sớm, kêu chiều, kêu cả hoàng hôn /Kêu bồ đề xanh, kêu tượng đài trắng / Kêu buốt lá kim trên cây mọc thẳng / Tiếng kêu nhức nhức Trường Sơn... (Ve kêu ở nghĩa trang Trường Sơn). Rồi có lúc người đọc lặng người đi khi nhà thơ nhắc đến một Hà Nội ở giữa bạt ngàn Trường Sơn, với tên ngõ phố, con đường...khắc sâu vào bia đá liệt sĩ và dường như những người con đất Hà Thành nằm lại đây vẫn hướng về quê hương: Người đi qua cuộc chiến / Nằm lại với Trường Sơn / Giữa mưa chiều nắng sớm/ Thương nhớ đất Thăng Long..." (Có một Hà Nội ở Trường Sơn).

Đối với nhà thơ Nguyễn Hữu Quý thì hai từ Trường Sơn quá đỗi thiêng liêng, gắn bó từ cây bồ đề mọc ở nghĩa trang, đến kí ức về những cô gái tóc dài. Và dường như tình yêu ấy, nỗi nhớ ấy phải nói bằng một tác phẩm lớn hơn, bề thế hơn như trường ca Vạn lý Trường Sơn. Trong trường ca này hình tượng cây bồ đề nằm ở phần mở đầu, mang cả một thế giới tâm linh với nguồn gốc rất đặc biệt: mọc không do ai trồng cả. Phải  chăng đó là linh hồn của rừng sâu, núi thiêng, của Trường Sơn hùng vĩ: Sinh ra cùng ngày với tượng đài Tổ Quốc ghi công / Cây bồ đề đã trở thành đại thụ / tán lá bầu  trời tròn che chở / vạn linh hồn phiêu diêu...Cây bồ đề trong tâm thức người Việt là loài cây gắn liền với đạo Phật, đặc trưng cho tinh thần nhà Phật, cho cõi Niết bàn siêu thoát. Phải chăng dưới tán cây ấy hơn mười nghìn liệt sỹ trong Nghĩa trang Trường Sơn, hơn mười nghìn linh hồn đang yên nghỉ, đang hướng về đức Phật từ bi. Cây bồ đề mọc lên với sức tỏa trăm núi, trăm sông giống như sự chiêu hồi, chiêu tập tất cả các liệt sĩ.  Mọc lên để khẳng định rằng sự bất tử của những con người đã ngã xuống vì non sông, đất nước: Họ vẫn sống như từng đã sống / Trong đạn bom, mưa nắng Trường Sơn / Và vẫn vươn xa như những con đường ...Họ nguyện gánh trên vai Tổ Quốc / Nhẫn lại bước đi trong giông bão gập gềnh.

Với giọng thơ đầy truyền cảm, ngôn từ giàu hình ảnh, Trường Sơn được nhà thơ Nguyễn Hữu Quý nhắc đến trong hơn nửa số lượng tác phẩm trong tập sách này như một dấu ấn riêng. Đồng thời cũng cho thấy rằng nhà thơ rất nặng lòng với Trường Sơn bởi nơi ấy gắn với những tháng ngày máu lửa, nơi ấy: Mọi quê hương vượt Trường Sơn đánh giặc / người lính gánh gùi bão táp trên lưng / họ đi song song với biển Đông / trong cuộc đọ sức với kẻ thù đã bay lên mặt trăng bằng tàu vũ trụ / Họ phải đi bằng đầu / thế mơí thành huyền thoại / có một Trường Sơn làm kinh ngạc quân thù / Có ở nơi nào / hoa phong lan trở thành vũ khí / nguỵ trang những con đường dài hàng trăm cây số / con gái tranh nhau đi phá bom từ trường, nổ chậm...(Vạn lý Trường Sơn)

Đi sâu vào thân phận người phụ nữ trong chiến tranh.

Đó là hình ảnh người mẹ trong Bông huệ trắng với nỗi khao khát, mong chờ những đứa con ra trận trở về. Nhưng những đứa con của mẹ chỉ về trong gió để têm cho mẹ miếng trầu cay, để xoè tay trên bếp khói, để giúp mẹ đánh rạ dọn rơm...Phải chăng đó chính là mơ ước hàng ngày của những người mẹ khi mà tiếng súng chiến trường đã im bặt rất lâu:Trắng thời gian những thập kỉ mong chờ / Mẹ thao thức mắt mờ tóc bạc / Mẹ nghe khúc khải hoàn trong nước mắt / Mẹ đợi từng ngày các con mẹ về quê/ Những đứa con của mẹ đang về... Ở phần cuối trường ca Vạn lý Trường Sơn hình tượng người mẹ được nhà thơ dựng lên đầy xúc động và mới mẻ. Mẹ Việt Nam vốn là một hình tượng quen thuộc với thơ ca, nhạc, hoạ...Trong văn học nghệ thuật đã có những tượng đài bất tử về mẹ. Nguyễn Hữu Quý đã góp thêm một hình tượng người mẹ Việt Nam không giống với bất cứ ai từ trước tới nay: Mẹ-miền- ôn- hoà- an- tĩnh của con / cái- vĩ- tuyến- hoà- bình- tin- cậy nhất. Dẫu phải gánh chịu bao nỗi mất mát, đớn đau: Mẹ đã có những đứa con ngã xuống trong chiến tranh; những ngôi nhà bị đốt cháy trong chiến tranh; những mùa màng bị sát hại trong chiến tranh; những tình yêu bị cướp đoạt trong chiến tranh...thì mẹ vẫn là một vĩ tuyến hoà bình tin cậy. Đó cũng có thể coi là một cách định nghĩa về mẹ rất đặc biệt, rất sâu sắc của nhà thơ.

Hình ảnh những người con gái trên chiến trường được nhà thơ miêu tả vừa có sự dịu dàng, dũng cảm vừa phải gánh chịu nhiều mất mát, đau thương. Khi ra đi họ còn mang theo hương rừng Trường Sơn trên mái tóc, trong vầng ngực thanh tân: Có một đoàn quân tóc dài không tuổi/ Gội hương rừng ngan ngát mái Trường Sơn..." (Trường Sơn tóc dài). Trong trường ca Vạn lý Trường Sơn người con gái được nhà thơ gọi dịu dàng, thân mật là em sống lại trong kí ức, trong trang nhật kí ố vàng. Một tình yêu dang dở, tình yêu bị chiến tranh chia cách nhưng dường như sự ác liệt ấy cũng không thể cướp được em trong hồi niệm. Một lễ vu quy, một lời cầu hôn muộn trễ, ta rước em qua bốn mùa, cùng em trở về bên mẹ, bên quê hương, bên giếng nước, ao làng...Đọc những câu thơ đầy xúc động: Cưới em tôi cưới ngày xưa / Của hồi môn có cơn mưa cầu vồng... hay: Phận người có có-không không / Sống là sống gửi thác mong được về / Hồn quê ở giữa lòng quê/ Neo vào ngọn gió phu thê xanh rờn... ta như thấy rằng nhà thơ càng cố lấp đầy vào khoảng trống mất mát sau chiến tranh bao nhiêu thì cái cảm giác trống trải, nhức nhối càng rộng lớn đau đáu bấy nhiêu.

Nhức nhối trước nỗi đau nhân loại.

Nỗi đau ấy trước hết là nỗi đau của quê hương, của dân tộc đã từng trải qua biết bao cuộc chiến tranh giải phóng và bảo vệ đất nước. Biết bao máu đã đổ xuống, bao người tuổi đôi mươi nằm lại mãi mãi chiến trường, bao cuộc chia ly vĩnh viễn...Tất cả nỗi đau ấy như đang thấm dần vào hồn thơ Nguyễn Hữu Quý: " Máu Việt / giọt / giọt / thoát lên từ đất / thắp những hồi chuông đỏ rực đỉnh ngày / và, vì thế / cỏ xanh đau như cắt (Những hồi chuông màu đỏ), để rồi nhà thơ phải thốt lên rằng: Những khuất chìm nhức nhối đổ về đâu ???.Trong trường ca Vạn lý Trường Sơn trước nỗi đau của mẹ về chiến tranh thế giới, về I Rắc, về những nỗi đe doạ cuộc sống của mọi con người trên hành tinh này, những câu hỏi như: Liên hợp quốc là gì?/ Liên quân là ai? tác giả đã ngậm ngùi, xót xa hỏi trước triệu triệu người có lương tri trên thế giới : Nhân loại sẽ về đâu / Trong những mưu toan vẩn đục?

Như vâỵ là trong Những hồi chuông màu đỏ nhà thơ không chỉ tái hiện lại một chặng đường lịch sử hào hùng, oanh liệt hay nỗi đau đớn, mất mát, xót xa của dân tộc mà còn thể hiện khát vọng hoà bình chảy bỏng của mình đến với toàn nhân loại. Điều này đã góp phần nâng cao, mở rộng tầm tư tưởng cũng như tính nhân văn sâu sắc của tập thơ và trường ca Những hồi chuông màu đỏ. Đây cũng được coi như nhà thơ đang thắp một nén nhang thơm đến các hương hồn liệt sĩ và gửi lời tri ân đến những người đã cầm súng chiến đấu vì nền độc lập, thống nhất dân tộc.

                                                

   VŨ THỊ HUYỀN TRANG

    

Giọt

nguyenhuuquy | 03 October, 2009 08:53

 

Nguyễn Hữu Quý


Giọt


Đã từng dài rộng núi sông

bây giờ chỉ muốn giọt trong cho đời.

Máu tươi cô lại thành lời

ru yên cây cỏ dưới trời bão giông!


 

«Trước   1 2 3 4 5 6 7 8 ... 33 34 35  Sau»