Sign up

Với tác giả "Cửa mở"...

nguyenhuuquy | 26 January, 2010 09:52

 

VỚI TÁC GIẢ "CỬA MỞ"
Nguyễn Hữu Quý

Từ trước tới nay, tôi cứ tưởng bác Việt Phương đã là hội viên kỳ cựu của Hội Nhà văn Việt Nam. Thú thực, tôi rất bất ngờ khi biết nhà thơ nổi tiếng Việt Phương là 1 trong 40 tân hội viên của Hội Nhà văn Việt Nam năm 2009 này. Xin chúc mừng bác - nhà thơ Việt Phương, tác giả của Cửa mở lừng lẫy trong cả nước từ những năm 60 của thế kỷ XX.

Thời bác làm thơ hay tôi vẫn là con nít. Dẫu vậy, ở tít trong Quảng Bình tuyến lửa bom đạn mịt mù bọn con nít như tôi vẫn được nghe những câu thơ là lạ từ miệng người lớn úp mở đọc ra: Ta nhất quyết đồng hồ Liên Xô tốt hơn đồng hồ Thụy Sĩ / Hình như đấy là niềm tin, ý chí và tự hào / Mường tượng rằng trăng Trung Quốc tròn hơn trăng nước Mỹ / Sự thơ ngây đẹp tuyệt vời và ngờ nghệch làm sao. Thời ấy, hình như người lớn xì xào rằng cái ông Việt Phương ấy phản động. Có làm sao mới chê ta thơ ngây ngờ nghệch chứ!...Thời ấy, ở Việt Nam mình rất, rất nhiều người coi thơ bác Tố Hữu là nhất. Buồn cười là có những bài thơ đọc lên rất khoái nhưng mọi người không biết tác giả là ai cuối cùng cứ gán cho bác Tố Hữu hết. Chúng tôi được dạy:Tố Hữu là lá cờ đầu của thi ca cách mạng Việt Nam và không cứ gì người lớn, bọn học trò thuộc rất nhiều thơ bác. Thơ Tố Hữu thật dễ hiểu, dễ thuộc nên tôi đọc vanh vách những Ba mươi năm đời ta có Đảng, Hoan hô chiến sĩ Điện Biên, Ta đi tới, Chào xuân 68...không lấy gì làm khó khăn lắm. Thơ bác Việt Phương, thời ấy hình như không được lưu truyền rộng rãi, người ta đọc trộm cho nhau nghe và qua nét mặt của người lớn tôi nhận ra trong đó có cái gì rất nghiêm trọng. Nó không giống những vần thơ ngợi ca thời đại hùng tráng mà chúng tôi thường đọc say sưa như: Hỡi sông Hồng tiếng hát bốn nghìn năm / Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng? / -Chưa đâu! Và ngay cả trong những ngày đẹp nhất / Khi Nguyễn Trãi làm thơ và đánh giặc, / Nguyễn Du viết Kiều, đất nước hóa thành văn, / Khi Nguyễn Huệ cưỡi voi vào cửa Bắc, / Hưng Đạo diệt quân Nguyên trên sóng Bạch Đằng...(Thơ Chế Lan Viên) hay: Có gì đẹp trên đời hơn thế / Người yêu người sống để yêu nhau / Đảng cho ta trái tim giàu / Thẳng lưng mà bước, ngẩng đầu mà bay / Đời vui đó hôm nay mở cửa / Như dãy hàng bách hóa của ta...(Thơ Tố Hữu ) . Nói tóm lại, cảm nhận của chúng tôi thời ấy, tuy còn lờ mờ là bác Việt Phương có cái gì đó không bình thường. Chao ôi, phải đến bốn mươi năm sau tôi mới được tiếp nhận khá trọn vẹn và đầy đủ cái trung thực chân thành cũng là tình yêu vô cùng sâu sắc với Đảng, chế độ, đất nước này của nhà thơ Việt Phương từ sự không bình thường ấy của bác.

Cảm nhận hôm nay của tôi về thơ Việt  Phương xin được nói sau, giờ xin được kể lại một chút kỷ niệm còn chưa lâu lắm của tôi với tác giả Cửa mở. Ngày thơ Việt Nam - Nguyên Tiêu năm Kỷ Sửu 2009 - Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam Hữu Thỉnh muốn bài thơ Muôn vàn tình thân yêu trùm lên khắp quê hương của Việt Phương được đọc ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Hà Nội. Không có gì hay hơn và tốt hơn là tác phẩm nổi tiếng ấy được chính tác giả đọc. Nhưng nhà thơ Hữu Thỉnh sợ bác Việt Phương tuổi cao sức yếu khó đọc tốt bài thơ khá dài này. Ban tổ chức họp đề ra 2 phương án, một là nhờ nghệ sĩ trình diễn, hai là để một nhà thơ thế hệ sau đọc. Phương án hai được thông qua và tôi đã được nhà thơ Hữu Thỉnh giao nhiệm vụ đọc tác phẩm Muôn vàn tình thân yêu trùm lên khắp quê hương. Tôi gặp riêng Việt Phương, nói ý định của ban tổ chức và xin ý kiến của bác. Nhà thơ vui vẻ đồng ý.

Có lẽ, còn lâu hoặc không bao giờ tôi quên đi cảm giác lâng lâng xúc động trong Ngày thơ Việt Nam ấy. Trước hàng nghìn nhà thơ và người yêu thơ ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám, sau lời giới thiệu rất tình cảm của bác Việt Phương bài Muôn vàn tình thân yêu trùm lên khắp quê hương đã vang lên qua giọng đọc của tôi. Tất cả chìm trong im lặng. Tình cảm và ý tưởng của bài thơ đã được truyền đến người nghe. Tôi biết, tôi không có kỹ thuật trình diễn của các nghệ sĩ, tôi chỉ đọc bằng trái tim mình qua chất giọng Quảng Bình mộc mạc mà quê hương và mẹ yêu dấu đã cho tôi. Tôi bị cảm xúc của bài thơ cuốn đi, dạt dào và tha thiết, sâu lắng và rưng rưng: Bác không bằng lòng gọi trận đánh chết nhiều người là đánh đẹp / Con xóa chữ đẹp đi như xóa sự cạn hẹp trong lòng con / Thêm hiểu lòng Người đối với quân thù như sắt thép / Mà tình thương mênh mông ôm hết mọi linh hồn. Tôi nghĩ rằng những câu thơ như thế sẽ sốngmới rất lâu. Chẳng chút gì gọi là cầu kỳ, rối rắm; giản dị đến tận cùng, chính xác đến tận cùng và sự xúc động cũng vô cùng mãnh liệt.

Tôi sẽ khó quên hơi ấm trong vòng tay của nhà thơ tài hoa và nhân ái ấy. Việt Phương ôm chặt tôi như thể cha ôm con vậy. Và, cuốn Cửa mở với dòng chữ: Thân ái tặng bạn Nguyễn Hữu Quý / Ngày 9 tháng 2 năm 2009 / Nguyên Tiêu Kỷ Sửu cùng chữ ký của Việt Phương đã là kỷ vật quý giá trong nhà tôi. Tôi biết tôi đã diễn đạt được tình cảm đối với Bác Hồ kình yêu mà nhà thơ Việt Phương đã gửi gắm trong tác phẩm.

Có lẽ, sau Nguyên Tiêu Kỷ Sửu 2009 đáng nhớ ấy, tôi có cơ hội cảm nhận sâu hơn cái hay cái đẹp trong thơ Việt Phương. Ánh sáng minh triết và lòng nhân ái quấn quyện trong thơ ông không ít. Đọc, sẽ thấy rất rõ một thi sĩ Việt Phương yêu đời, yêu người thắm thiết: Đất được mùa hoa, ta mùa đời / Mỗi lòng thơm tỏa một hương vui / Như người ươm hạt yêu quả chín / Đi suốt đường hoa, chỉ ngắm người ( Chợ hoa ngày Tết - viết năm 1963). Đọc, sẽ thấy một đảng viên cộng sản chân chính: Cứ đêm đêm, ta lại xét kết nạp ta vào Đảng / Thời gian nâng đòi hỏi mãi cao thêm / Đến trọn đời, từng giờ là cộng sản / Những nỗi đau ta cũng sáng búa liềm ( Tâm sự đảng viên - 1963). Đọc, sẽ thấy một nhân cách đáng kính bởi sự trung thực và một trí tuệ đáng trọng bởi có cái nhìn cuộc sống thật biện chứng: Năm xưa ta vô tình tô đẹp cuộc đời để mà tin / Nay ta càng thêm tin mà không cần tô gì nữa cả / Quen thuộc rồi mọi bất ngờ kỳ lạ / Ta đã trả giá đau và ta đã học nhìn. (Cuộc đời yêu nhu vợ của ta ơi -viết năm 1969)

Thế đấy, một người có những bài thơ, câu thơ xuất sắc như thế từ những năm 1963, 1969 mà nay mới cầm tấm thẻ Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Nó hơi khác thường nhưng theo tôi là một điềm đẹp, đẹp và lành cho tác giả Cửa mở và cho cả chúng ta những anh em thân thiết trong Ngôi Nhà có tên gọi Hội Nhà Văn Việt Nam.

     Đêm 25 tháng 1 năm 2010,

 Sau khi đọc Danh sách hội viên mới Hội Nhà văn VN.
                                     

Ký ức Lính: Em tên là Khái

nguyenhuuquy | 25 January, 2010 09:39

 

EM TÊN LÀ KHÁI

Thanh Khê

Suýt nữa thì em không thuộc về tôi. Người yêu dấu của tôi bây giờ cách đây hai mươi năm về trước là một cô giáo ở trường tiểu học Mò Ó, miền tây Quảng Trị. Chúng tôi gặp nhau trong đợt đơn vị đi dã ngoại giúp dân khắc phục hậu quả sau trận lũ lịch sử ở vùng đất này. Ngôi trường em dạy bị lũ tàn phá nặng nề, những mảng tường xây đổ vỡ, bàn ghế sách vở bị cuốn trôi gần hết. Dù bị cuốn theo công việc bộn bề, những chàng sĩ quan và lính trẻ vẫn không thể không để mắt tới các cô giáo cắm bản, quần xắn tới gối đang dọn dẹp nhà cửa bên cạnh. Một đôi mắt hướng về tôi. Đen và dài. Giữa ngổn ngang bùn đất, đá sỏi tôi bàng hoàng trước khuôn mặt trái xoan đang ửng hồng lên với đôi lúm đồng tiền xoay xoay trên má. Tôi đến bên, này em, có việc gì để bọn anh làm giúp cho. Lúm đồng tiền xoáy sâu hơn, bộ đội các anh làm nhiều việc nặng nhọc vất vả rồi, còn lại để bọn em tuổi nhỏ làm việc nhỏ tuỳ theo sức của mình. Giọng cô giáo khác, anh muốn làm giúp cho nó suốt đời không? Út Hổ đang cần một cánh rừng che chở đấy. Tôi có nghe nhầm không nhỉ, em tên là Hổ, con gái mà có cái tên rừng rú thế à. Nhưng, với một thằng con trai tuổi hai lăm thanh tân như tôi thì sự hấp dẫn của người con gái nằm ở những đường nét thanh tú của khuôn mặt, cái eo thắt mềm mại của vóc dáng chứ đâu ở cái tên. Tên em là HổBáo hay Khủng Long gì gì đi nữa cũng chẳng ngăn được sự cuốn hút tôi khi em xinh đẹp đến dường vậy. Tôi cười, Hổ ơi, anh xin trả lời câu hỏi bạn em đây, nếu em nhất trí anh sẵn sàng làm giúp em suốt đời. Mấy cô giáo cười nghiêng ngã. Em cũng thế, vừa cười vừa đấm thùm thụp vào vai bạn mình. Tôi linh cảm mình đã bị các cô giáo trêu và hình như mấy chiến sĩ của tôi cũng đoán ra thế, tất cả à lên, chết rồi trung đội trưởng xinh giai bị các cô giáo cho ăn quả lừa rồi. Bạn em, vẫn cô giáo mặt tròn như trăng rằm đó, đáp trả, đừng nói thế oan cho bọn em, không tin thì anh cứ hỏi người đẹp ấy. Tôi nhìn vào mắt em nhẹ nhàng hỏi, này có phải tên em là thế không? Hình như có một nét cười trong ánh mắt lay láy nhìn tôi, trung uý ơi tên em cũng gần gần như rứa đó. Cô giáo mặt tròn tiếp lời bạn, thôi không đùa anh nữa, nó tên là Khái, mà quê chúng em Hổ cũng gọi là Khái đó anh ạ. Trời đất, nghịch đến thế là cùng, theo anh nên chữa lại câu nhất quỷ, nhì ma, thứ ba học trò thành nhất quỷ, nhì ma, thứ ba cô giáo, tôi phản công lại các cô giáo trước sự đồng tình cao của cánh lính trẻ măng. Đúng thế, hổ ở quê tôi cũng gọi là khái hay cọp; dân gian còn dùng từ ông ba mươi để chỉ vị chúa sơn lâm đầy sức mạnh này.

Nếu câu chuyện chỉ dừng ở đó thì tôi chắc chẳng có gì để kể ra với các bạn. Xoay quanh cái tên Khái của em còn có những rắc rối khác. Sau lần đi giúp dân đó tôi và em đã trở thành người thân của nhau. Như các nhà văn hay ví thì tiếng sét ái tình đã nổ ra từ ánh nhìn đầu tiên của hai đứa. Mảnh đất Mò Ó xa xôi đã trở thành địa chỉ xanh vô cùng thân thiết và gần gũi đối với tôi. Chúng tôi ít được gặp nhau, nhưng thư từ thì tuần nào cũng có. Vài tháng tôi xin phép đơn vị lên thăm em một lần vào ngày thứ bảy. Những thứ bảy ấy là khoảng thời gian tuyệt vời của chúng tôi. Bên bếp lửa hồng, em và tôi cùng nướng những bắp ngô rẫy vàng ruội, thơm phức. Vết nhọ vương lên má em cũng trở thành một hình ảnh đẹp in đậm trong tim tôi. Chúng tôi đưa nhau vào rừng hái măng, hái nấm. Những cánh rừng già của đại ngàn Trường Sơn rì rào, lao xao che chở chúng tôi. Con suối trong vắt chảy bên rìa bản soi bóng em và tôi những chiều vợi nắng. Học sinh của em, những cô bé, chú bé người Vân Kiều, Tà Ôi mỗi lần trông thấy chúng tôi đều giơ tay vẫy vẫy, ô ô cô miềng đi với chú bộ đội đẹp hung, đẹp hung. Bạn bè cùng dạy với em ai cũng khen chúng tôi đẹp đôi và đều vun vén vào cho hai đứa. Có đêm  nắm tay nhau đi trong làn sương lãng đãng, nghe tiếng chim từ quy gọi nhau da diết vọng về từ cánh rừng trăng tôi và em thấy không ai hạnh phúc bằng mình. Tôi nghĩ, cuộc đời này không ai có thể thay thế được em, không một sức mạnh nào có thể ngăn cản chia lìa nổi hai người. Tôi và em hẹn nhau ngày về thăm nhà, để thưa chuyện của mình với bố mẹ. Quên, chưa kể, em đã đôi lần về thăm tôi ở đơn vị. Đại đội đã biết chuyện của chúng tôi, C. trưởng Trần Đăng Khoa chưa chi đã tuyên bố, hai em cưới nhau anh sẽ nhận làm vai chủ hôn. Em thực sự là nguồn thơ dịu mát của tôi. Tôi đã từng làm thơ tặng em và tác phẩm của thi sĩ đại đội ấy đã được công bố trên tờ báo tường Xung phong của đơn vị. Thơ như thế này: Em về còn để lại hương / Căn phòng nho nhỏ vấn vương hơi người / Vẫn còn thơm tóc, thơm môi/Thơm mắt lay láy, thơm cười lung linh/ Em về còn để lại xinh/ Cho tôi lấy nhớ xếp hình người yêu /Thương bao nhiêu, nhớ bao nhiêu / Mà sông mắc cạn cuối chiều khuyết trăng / Em về còn để bâng khuâng / Giấc mơ tôi gặp dáng xuân gần kề / Bồng bềnh đêm sóng đam mê / Sóng xanh như cỏ bờ đê hôm nào / Em về còn để lao xao / Lời thương nhè nhẹ bay vào ban mai / Ơ kìa mưa đã giêng hai / Se se rét lộc, rét đài...Về em

          Ấy chết, cứ say đắm miên man kể chuyện nọ xỏ chuyện kia không đi vào vấn đề chính làm các bạn sốt ruột. Tôi nói ngay luôn đây, cái sự rắc rối ấy lại bắt đầu từ mẹ tôi. Mẹ tôi hiền lành và thương con rất mực. Nhà tôi có hai chị em; chị Luyến đã lấy chồng và hiện nay sống ở Hà Nội. Bố tôi là liệt sĩ thời đánh Mỹ, mẹ ở vậy vò võ nuôi dạy chị em tôi thành người. Tôi, từ bé và có lẽ mãi mãi vẫn là thằng Cu Khê, cục cưng của mẹ. Khi thằng Cu Khê đã thành sĩ quan quân đội rồi mẹ vẫn chăm chút cưng nựng tôi như thuở học trò. Con đau mẹ xót, khi nghe tin tôi bị sốt rét, mẹ không quản đường xa, tay nải tay bị vào đơn vị chăm sóc tôi. Thế mà, khi nghe tôi thưa chuyện về em mẹ đã ngại ngần không chấp nhận. Không phải vì em không xinh, không ngoan hiền mà chỉ tại cái tên của em. Nghe tôi nói tên em, mẹ tỏ ra ngần ngừ ,con gái mà tên Khái à, chắc là nó sinh vào năm Hổ nên bố mẹ đặt cho tên đó; con gái tuổi Hổ, tuổi Dần, không dễ dạy bảo đâu con ạ. Tôi cãi mẹ, mẹ đừng phong kiến thế, tuổi tác đâu quyết định được hạnh phúc của hai người, con thấy Khái rất hiền lành, chăm chỉ mẹ ạ. Mẹ vẫn không lùi bước, Khê à, con gái tuổi Dần cao số lắm, thương con, lo cho hạnh phúc sau này của con mẹ mới nói thế... Mẹ chịu khổ quá nhiều rồi, tôi không muốn chất thêm những buồn đau vào người mình yêu quý nữa. Tôi im lặng. Nhưng rất buồn. Và không dám kể lại với em những điều mẹ nói.

Thấy tôi tự nhiên đổi tính, buồn rầu đại đội trưởng Trần Đăng Khoa gặng hỏi. Lâu nay tôi vẫn xem anh là người thân nên đã kể hết với anh chuyện ấy. Anh cười to, thằng ngốc, thế sao mày không đi tìm hiểu xem tại sao cô ấy có cái tên như thế, biết đâu là nó chẳng liên quan gì đến tuổi tác mà chỉ ghi dấu một kỉ niệm gì đó của bố mẹ Khái thì sao.

Thưa các bạn, tôi đúng là thằng ngốc thật; sau khi tìm hiểu ra thì cái tên Khái ấy chẳng liên quan gì tới năm sinh của em. Thực ra thì em sinh vào năm Hợi và cái tên Khái đúng là gắn với một kỷ niệm của bố em. Ông là bố đội lái xe Trường Sơn thời đánh Mỹ. Giáp Tết, trong một lần lái xe ra Bắc, qua ánh đèn gầm ông thấy có một vật to lớn đang ngồi lù lù như cái chum giữa đường. Còi mấy, cái vật ấy vẫn không hề nhúc nhích. Sinh nghi, ông dừng xe, tay cầm khẩu AK bước xuống rồi tiến lại gần. Mười mét, năm mét rồi hai mét. Linh tính mách bảo cho ông có gì đó nguy hiểm, ông lùi lại, giơ súng lên trời điểm xạ hai viên. Vu...vút...vút. Một luồng gió mạnh cuộn lến kèm theo mùi hôi nồng nặc lan toả. Trời ơi. Hổ. Một con hổ bằng xương bằng thịt đang vụt phóng vào rừng. Hú hồn, tí nữa thì ông đã giáp mặt với ông ba mươi. Trong lần đi ấy ông được ghé về nhà một đêm và sau chín tháng mười ngày mẹ đã sinh ra em. Ông vốn là người tinh nghịch nên khi vợ viết thư hỏi đặt tên cho con gái là gì thì người lính lái xe âý trả lời rằng: Tên nó là Khái, Khái là Hổ, em biết chưa, đặt thế để ghi dấu một kỉ niệm Trường Sơn của anh. Biết được chuyện ấy, mẹ tôi mừng, mừng lắm, người giục tôi mau mau bàn với Khái để mẹ đến thưa chuyện với gia đình em xin làm đám hỏi đám cưới. Tôi dám chắc rằng chưa có mẹ chồng nàng dâu nào sống hoà hợp với nhau như mẹ tôi và em. Mỗi lần nhắc lại chuyện xưa, mẹ tôi lại âu yếm nói với em, suýt nữa thì mẹ không có được nàng dâu đẹp người, đẹp nết như con, Khái ạ. Em ôm mẹ, dịu dàng cười, do ông Trời sắp đặt cả mẹ ạ. Đôi lúm đồng tiền trên má em xoay xoay, xoay xoay. Yêu quá!


 

Hạ thủy những giấc mơ

nguyenhuuquy | 18 January, 2010 07:31

 

Nguyễn Hữu Quý

HẠ THỦY NHỮNG GIẤC MƠ

Trích


1

Chim Lạc xoãi cánh về Đông

phía mặt trời lên là bao la biển

tổ tông tôi tắm mặn từ nguyên thủy

những tượng hình từ sóng vút lên


Biển

hạ thủy những giấc mơ đầu tiên

và những khát khao dong buồm vượt sóng

lấm láp bơi trên thời gian thăm thẳm

sấp ngửa

       ru nhau

                             mặn muối cay gừng


À ơ...

muối mặn gừng cay

một nửa ca dao đất nước tôi là biển

thủy triều vơi đầy lục bát

những hải lưu sáu tám chở vui buồn


Xoay nhịp trống đồng

gõ vang sấm biển

chớp bão khơi xa nhay nháy canh gà

có khuya khoắt ao làng sóng nổi

canh gió đồng ướt sũng nghìn năm


Nghìn năm

ánh chớp thiên hà

bao máu đổ mới thành hồn Việt

kẽo kẹt kẽo cà mái tranh vách đất

bóng sông in trên mỗi đấu chiêm mùa


Lang Liêu ở rừng, An Tiêm ở biển

cổ tích ngược xuôi theo những con thuyền

tôi hiểu vì sao chuyện cổ thường có hậu

dân tộc tôi hạ thủy giấc bình yên

                                                         

Quả trứng hồng nở ra ban mai

nghìn năm ò ó o góc biển

hạ thủy tấm chiếu son trên sóng

đây thuyền đây bến, này vợ này chồng


Hạt gieo giữa mênh mông

có ngày thành quả ngọt

hoang vu thành xóm mạc

sum vầy lộng khơi


Hạt giống thành cây, san hô thành đảo

đảo thành Tổ quốc linh thiêng

mẹ đặt tên cho con

đất nước đặt tên cho đảo

đảo và con đều dòng giống Lạc Hồng!


Bên tâm bão con thuyền neo bán đảo

thiên kỷ nào cũng hướng biển Đông

nước mắt thành sông

sông thành biển mặn

mẹ là quê ngóng đợi cha về


Xin được gọi Hoàng Sa, Trường Sa như thế

dấu ông cha in cát đắng bao đời

người trấn giữ còn lưu tên tuổi

ròng ròng gia phả Lý Sơn...


Gia phả

  ròng ròng

                 máu son

mấy trăm năm còn tươi sắcViệt

mộ gió mang hồn người đã khuất

cát sinh tồn thiêng liêng!


Vọng mai sau tiếng chèo cắt sóng

và cánh buồm chửa gió phồng căng

hải trình xưa chấm sao còn lấp lánh

đảo không còn vô danh...

                                                              

2

Nhập ngũ

chàng binh nhì của biển

đêm đầu tiên gối sóng nao nao

con tàu phóng lôi neo vào vằng vặc

quân cảng tròn mười tám


Tuổi em.


Tuổi của Tiên Dung gặp Chử Đồng Tử trên bãi Tự nhiên thời biển còn hoang vắng

lau sậy vi vu, cát mịn chở che người

khỏa thân

dựng chiếc nón Trời

giông mưa cũng chấp, bão đời cũng cam


Hạ thủy giấc mơ xanh

chia tay những nàng tiên cá

con tàu bay về miền rơm rạ

đậu xuống ao làng

bóng mẹ áo xanh, bóng em áo trắng

biển của tôi xanh - trắng mơ màng...


Xin chào nhé mùa hè thánh thót

trên tay em con thuyền giấy thả mưa

tôi hạ thủy cầu vồng

xuống nơi từng là biển

bảy sắc lung linh vương miện

trên đầu thiếu nữ phù sa

lính biển chiều em

Bài ca Hải đội.


Đi hết sông Mưa

con thuyền về bến Nắng

biển như tôi xanh đến ngẩn ngơ lòng

em có nghe cánh buồm lĩnh xướng

trong vầng mây cổ tích trắng lưng trời?

*

Trở về quân cảng trước bình minh

đứng nghiêm chào Tổ quốc

ngọt ngào môi tôi giấc mơ đêm trước

ngọt - ngào - biển

ngọt -ngào - em...


3

Khái niệm biển mở ra

rộng hơn bài địa lý thầy đã dạy

khi trên vai tôi có linh hồn đồng đội.


Trong mơ các anh về

từ những con tàu đã ngủ yên dưới đáy biển

phục sinh bấy nhiêu quên lãng

nơi bao loài thủy tộc thân quen

trục vớt lên

những hành trình không tên, không số

những hành trình nương vào bão tố

để che mắt quân thù

trục vớt lên những mùa hè

trái tim nổ tung núi lửa

trục vớt lên những mùa thu

lỗ chỗ vết đạn găm

trục vớt lên những mùa đông

lặng im cảm tử

những mùa xuân không hoa đào nở

ngổn ngang trời, ngổn ngang biển mây bay


Biển

bảo tàng chưa ai đặt tên

nghĩa trang chưa ai đặt tên

những kỷ vật vô danh chìm khuất

đáy đại dương chật vật

những cuộc hồi sinh không hương khói đi kèm


Trong mơ các anh về

có cặp mắt chưa được làm đàn ông thẩn thờ

có đôi môi chưa một lần hôn, tím tái

có cánh tay chưa được ôm choàng bồng bế thỏng vào đêm

có bờ vai chưa được công kênh trẻ con rì rào chảy...


Biển tồn tại những cánh đồng lỡ vụ

những dòng sông nhật thực đổ qua ngày

những khoảng trời vắng mây

những mái nhà không lửa

những con đường cạn gió hong phơi


Hạ thủy những chưng cất mùa màng mới

men đồng quê ủ sau lũy tre làng

rót vào biển mặn

những dòng mưa ký thác của đất liền


Mưa không còn ướt nữa

dư âm trôi trên sóng bạc đầu

đi về đâu

linh hồn biển?


Hạ thủy xuống hoàng hôn hải phận đỏ sắc cờ

mỗi người lính hi sinh một lá cờ trong biển

bay xiết hải lưu nóng - lạnh

phấp phới thềm lục địa

những linh hồn quấn Tổ quốc

định danh

cũng có thể vô danh hòa vào biển

lãnh hải mênh mông

những vô hình cắm mốc biển Đông!


Trong mơ tôi thấy rõ những vô hình

như em thấy rõ từng nốt nhạc

những phím sóng trên cây đàn biển

bật lên

ngân lên

cung bậc trầm hùng.


Hạ thủy từng lớp cắt mù sương

lọc lấy những âm thanh thời tàn khốc

tín hiệu gửi đất liền lúc lâm chung vĩnh biệt

Ai? Và ai, chưa được trở về?

Ai? Và ai, chưa được lắng nghe?

tiếng trẻ u oa sau dậu cúc tần và bờ tre thôn ổ

tiếng hạt mầm tách vỏ

giọt sương rớt trên áo mẹ

cơn mưa chiều rẽ lối về em

mưa vừa rơi vừa mặn

trên vọng phu không hóa đá của làng!


Hạ thủy vầng trăng khuyết

như một chuyến đò buồn

chở cánh đồng góa bụa

đi về nơi biển xanh...


Quan họ, người ơi...

nguyenhuuquy | 09 January, 2010 08:38

 

QUAN HỌ, NGƯỜI ƠI...

Nguyễn Hữu Quý

Tôi sinh ra và lớn lên ở Quảng Bình, xứ sở của gió lào cát trắng nhưng từ lâu đã đắm đuối quan họ. Thời chiến tranh chống Mỹ, bộ đội vào Nam đánh giặc (gọi là đi B) không thể không hành quân qua tỉnh tôi. Lúc ấy, tôi còn đang tuổi học trò, áo vá chân đất đến trường dưới tầm bom đạn Mỹ. Xã Cự Nẫm thuộc huyện Bố Trạch quê tôi là một trong những nơi dừng chân của bộ đội ta trước khi vào chiến trường. Trong thời gian học cấp 3 ở đây tôi có quen một chú bộ đội tên là Cầu quê ở Hà Bắc. Chúng tôi quen nhau chỉ được mấy ngày thôi nhưng khoảng thời gian ngắn ngủi ấy cũng đủ để cho tôi chép mấy bài thơ của Phạm Tiến Duật vào sổ tay của chú và chú ấy dạy tôi vài bài quan họ như Cây trúc xinh, Người ở đừng về...Trong hồi ức của tôi vẫn còn hình bóng chú: một thanh niên mảnh mai trắng trẻo, nói chuyện nhỏ nhẹ và hát dân ca quan họ thật hay. Khởi nguồn tình yêu quan họ của tôi từ đó chăng? Và, theo thời gian, cái tình yêu trong trẻo ấy cứ lớn dần lên cùng những bâng khuâng xao xác khi được xem Đến hẹn lại lên; một bộ phim xúc động về miền quê quan họ, được nghe các liền anh liền chi ca đôi câu lề lối rất mực huê tình. Cách đây chục năm, sau khi nghe quan họ giữa thành phố Hồ Chí Minh tôi đã viết: Cứ như đã hẹn trúc xinh / Ao xưa đình cũ với mình chiều nay / Xin người lựa ngọn gió bay / Buộc vào vạt áo mặn cay với người / Lời thương chẳng sợ nhạt vơi / Nay mai chân bể góc trời có nhau / Còn duyên làm rể sông Cầu / Hết duyên Quán Dốc đón dâu với làng / Trăm năm cón nhớ người ngoan / Quai thao nón thúng có sang bến chờ? / Mạn thuyền nước chảy lơ thơ / Sương giăng bóng nhện cuối bờ giêng hai...Tuy vậy cũng lần lữa mãi, hẹn hò mãi mới có được một chiều đông về với sông Cầu nước chảy lơ thơ để nghe, để thấy, để thấm phần nào thanh sắc quan họ gốc, quan họ mộc nơi xứ sở của những làn điệu dân ca da diết, níu náu đã trở thành di sản văn hóa nhân loại.

Chúng tôi chọn huyệnViệt Yên để đến với những làng quan họ. Bạn đồng hành với tôi trong chuyến điền dã thú vị này là nhà thơ Nguyễn Thanh Kim, Đoàn Văn Mật, nhà báo Đỗ Thành Nam và đặc biệt có phó phòng văn hóa thông tin huyện Đào Trọng Ca vốn là một người ca quan họ nổi tiếng. Tự nhiên, sôi nổi, Ca truyền dụ vào tôi cái chất đắm đuối mê say của dòng quan họ bằng những câu chuyện, câu hát về quê hương mình. Việt Yên có 130 đội văn nghệ / 151 làng trong đó có 80 đội quan họ. 5 làng quan họ của huyện vừa được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Mừng lắm, tự hào lắm chứ khi quan họ không chỉ là tài sản có giá trị riêng của vùng Kinh Bắc, của Việt Nam mà nó đã trở thành vốn quý của hành tinh xanh này. Bạn bè bốn biển năm châu đã biết đến, đã tìm về ngày càng đông hơn quê hương quan họ và sau khi nhận miếng giầu cánh phượng của người ngoan họ được thấm thía cái tình sâu lắng, vẻ đẹp thanh tao của mảnh đất này.

Người chơi quan họ, Đào Trong Ca nói với tôi thế. Chao ơi, một cuộc chơi tự nhiên, công phu đầy nghĩa tình nhân văn đằng đẵng kéo dài từ thế hệ này sang thế hệ khác, trọn những kiếp người níu náu dùng dằng với nó. Còn mãi với thời gian, còn mãi với không gian 5 canh quan họ vang - rền - nền - nẩy với 3 giọng lề lối, vặtgiã của những liền anh áo lương khăn xếp, những liền chị nón thúng quai thao. Người quan họ khi kết chạ rồi thì không lấy được nhau. Trời ạ, Yêu nhau không lấy được nhau / Mượn dao mượn kéo gọt đầu đi tu. Tôi từng phân vân tại sao người xưa đặt ra cái lề luật nghiệt ngã đến thế với các liền anh liền chị. Những tình yêu không đi tới hôn nhân. Bây giờ tôi đã hiểu ra chính nhờ cái lề luật nghiệt ngã đó mà những canh quan họ bao giờ cũng trong sáng, cũng da diết, cũng sâu sắc, cũng níu náu đến nao lòng. Cuộc chơi quan họ là cuộc chơi không có hồi kết, giã bạn rồi hẹn bạn trở về trong tiết giêng hai lất phất mưa bay để cùng soi vào mắt nhau, trao gửi cho nhau những thăm thẳm ân tình.

Về Thổ Hà, gặp gỡ anh Hai Hiệp, anh Hai Nam - một cặp ca quan họ nổi tiếng của Bắc Giang - chúng tôi mới hiểu rõ hơn thế nào là người chơi quan họ. Anh hai Nguyễn Phú Hiệp, nói không ngoa chút nào chính là kho quan họ của làng. Trong anh đang lưu giữ khoảng 400 bản quan họ cổ. Hay diễn đạt cho chính xác hơn thì hơn 400 bản quan họ ấy; những Cây gạo chon von, những Ông giăng, những Tuấn Khanh... đang ở trong máu thịt của anh. Nó chính là cuộc đời anh, tâm hồn anh; cuộc đời và tâm hồn đa cảm đa tình của một người quan họ. Cuộc sống vất vả truân chuyên không làm cho người chơi quan họ nản lòng. Anh Hai Hiệp làm nghề cắt tóc, anh Hai Nam sản xuất bánh đa, những thảo dân ấy cũng là những nghệ sĩ tài hoa của làng quan họ. Anh Hiệp đã từng học quan họ với cụ Son, cụ Thà, cụ Xôi từ thời trai trẻ. Anh kể rằng, các cụ phần lớn không biết chữ, thầy dạy cho trò theo lối truyền khẩu, có trường hợp phải 10 năm sau mới hoàn thiện bài hát. Có câu chuyện thế này không thể không kể ra với bạn đọc. Năm 1994, cụ Son thầy dạy của anh Hai Hiệp bị ốm thập tự nhất sinh. Năm ấy cũng là năm cặp liền anh Hai Hiệp - Hai Nam đi thi hát đối đáp do tỉnh Hà Bắc (cũ) mở và đã dành giải nhất với bài Ông giăng. Bài hát này là của độc, vào thời điểm ấy không mấy người biết do sư huynh Vũ Tự Lẫm, người đóng vai Hai Chi trong phim Đến hẹn lại lên mới dạy cho hai người tối qua. Dành được giải cao nhất cuộc thi 2 anh về báo công và hát cho cụ Son nghe. Mấy vạn năm nay tính hãy còn / Cớ sao khi khuyết lại khi tròn / Ba mươi, mồng một đi đâu vắng / Hay có tình riêng với nước non. Sau khi nghe trò hát, cụ Son bỗng ngồi phắt dậy rồi nói: hát thế mới đúng, mới phải, ngày xưa ta vẫn hát như vậy. Rất kỳ lạ là sau khi nghe trò hát, thầy dần dần lui bệnh rồi khỏi và còn sống thêm 9 năm nữa.

Hát quan họ, không nghi ngờ gì nữa chính là nhu cầu tự thân của người xứ này. Những giai điệu trữ tình được cất lên trong hội làng, trong cuộc sống thường ngày. Gặt hái đáng kể nhất của  tôi trong chuyến đi này là được ngồi giữa đình làng hay trong nhà các liền anh, liền chị nhiều thế hệ để thưởng ngoạn quan họ ngoài sân khấu, không có nhạc đệm, không có hóa trang. Một thứ quan họ mộc được cất lên tự nhiên và gần gũi vô cùng. Đã lắng đọng vào tôi không chỉ là những giai điệu, lời ca hay và đẹp mà còn có hơi thở nồng nàn, những nét duyên đằm thắm của người quan họ. Ở đình Thổ Hà chưa hết ngất ngây khi nghe anh Hai Hiệp, Hai Nam ca thì khi về Nội Ninh, một trong những làng được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể thế giới, cảm xúc của chúng tôi được nhân thêm bội phần khi nghe cụ Đoàn Thị Cỏn, một nghệ nhân quan họ năm nay đã 90 tuổi và con dâu cụ, chị Đoàn Thị Bùi, đội trưởng đội quan họ của làng kể chuyện và cho thưởng thức những Đào nguyên, Ba Vì, Giăng bao nhiêu tuổi giăng già, Người ở đừng về...dậy tiếng thơm bao đời. Hai thế hệ quan họ, cách nhau hàng sáu chục tuổi, ngồi kề bên nhau hát đắm say những khúc tâm tình. Cụ Cỏn kể rằng, mười hai, mười ba tuổi tôi đã đi học ca quan họ, đến tuổi gần đất xa giời rồi vẫn còn mê hát và truyền dạy cho con cháu. Còn liền chị Đoàn Thị Bùi thì bộc bạch, trước đây tôi thích hát nhạc đỏ nhạc xanh nhưng sau khi được u truyền dạy cho thì tôi mê cái vang rền nền nẩy của quan họ lắm. Chị có may mắn là được mẹ đẻ và mẹ chồng truyền dạy quan họ cho, nên bây giờ là một trong những liền chị nổi tiếng của Bắc Giang. Mê đắm quan họ nên nhiều người như Bùi đã bỏ ra gần 500 nghìn tiền túi để sắm sanh áo quần, nón thúng quai thao. Không thể không nhắc tới đội quan họ của làng Nội Ninh đã có 39 người, từ các cháu học trung học cơ sở đến người trên 50 tuổi. Cũng vì để giữ gìn vốn quý quê hương, giám đốc Công ty Bagico Nguyễn Thị Thành Thực đã thành lập câu lạc bộ hát dân ca tập hợp trên 60 cháu. Công ty đã bỏ tiền ra thuê người về dạy ca quan họ cho các cháu. Chúng tôi đã chứng kiến buổi học hát quan họ của các cháu thiếu nhi tại câu lạc bộ hát dân ca của Công ty do cô Hiền, cô Thu dạy. Những bài quan họ, lời cổ và mới được cất lên từ những cháu thiếu nhi nghe đáng yêu quá và tôi tin những lớp liền anh, liền chị mới đang được hình thành. Trên quê hương Bắc Giang, sẽ  xuất hiện nhiều người chơi quan họ nổi tiếng. Quan họ chẳng bao giờ mai một, phai nhạt hay mất đi, ngược lại sẽ càng sáng tỏa hơn, càng vang rền nền nẩy hơn trong lòng bạn bè gần xa.  Bởi quan họ là tình người, là ân nghĩa, là nhân văn mang vẻ đẹp tâm hồn sâu sắc của xứ sở này.


 

Nhà văn trẻ Trung Quốc...

nguyenhuuquy | 02 January, 2010 08:46

 

NHÀ VĂN TRẺ TRUNG QUỐC TRONG "TỨ ĐẠI ĐỒNG ĐƯỜNG"

Nguyễn Hữu Quý

Tháng 12 năm nay, cùng với các nhà văn Hà Phạm Phú, Văn Chinh, Đỗ Bảo Châu, Trần Kỳ Trung, tôi có chuyến thăm và làm việc với các nhà văn Trung Quốc. Mùa đông nước bạn giá buốt; có những lúc thủ đô Bắc Kinh lạnh âm bốn độ C, thành phố Tây An tỉnh Thiểm Tây tuyết rơi trắng muốt, Thượng Hải cũng lạnh lắm nhưng đoàn nhà văn Việt Nam lúc nào cũng cảm thấy ấm áp bởi tình cảm gần gũi, thân thiết và sự đón tiếp chu đáo của bạn. Suốt hành trình dọc ngang Trung Hoa của chúng tôi, từ Bắc Kinh hoành tráng đến Thiểm Tây cổ xưa về Thượng Hải năng động luôn có Vương Khiếu Hoa, cán bộ Ban đối ngoại Hội Nhà văn Trung Quốc và Thẩm Tổ Anh, phiên dịch đi cùng. Chúng tôi đã có ba buổi làm việc trao đổi với đại diện Hội Nhà văn Trung Quốc, Hội Nhà văn Thiểm Tây và Hội Nhà văn Thượng Hải về tình hình văn học hai nước. Đội ngũ nhà văn trẻ và vị trí của họ ở Trung Quốc hiện nay như thế nào là một trong những mối quan tâm của chúng tôi.

Bạn cho rằng nhờ sự phát triển mạnh mẽ và vững chắc về kinh tế cũng như sự nới lỏng về chính trị đã tạo điều kiện cho văn học Trung Quốc trong mấy năm gần đây phát triển mạnh. Văn học thuần túy, văn học trẻ và văn học mạng (theo cách gọi của bạn) cùng song song phát triển và đều có người đọc. Truyện dài (tiểu thuyết) là loại hình văn chương phát triển mạnh mẽ nhất ở Trung Quốc hiện nay; ước tính mỗi năm xuất bản 1000 bộ. Năm 2008 giải thưởng Mao Thuẫn đã trao cho 4 bộ tiểu thuyết của Giả Bình Ao, Chu Tài Tân, Xích Tử Kiện và Mạch Gia. Những triệu phú nhà văn xuất hiện trong đó có các tiểu thuyết gia trẻ tuổi như Quách Kính Minh, Hàn Hàn...Những cây bút trẻ như Quách Kính Minh, Hàn Hàn, Lý Sỏa Sỏa, Xuân Thụ, Trương Duyệt Nhiên, Trịnh Tiểu Quỳnh, Tôn Duệ, Tưởng Phong, Châu Gia Ninh, Bộ Phi Yên, Quảng Quảng, Tiểu Phạn, Thái Tuấn, Chu Tiến...được nhắc nhiều đến trên văn đàn nước bạn.

Trong số các nhà văn trẻ, Quách Kính Minh được coi là hiện tượng của văn học Trung Quốc. Anh đã được độc giả biết tới từ tiểu thuyết đầu tay Ảo thành với số lượng sách xuất bản lên tới 84 vạn. Quách Kính Minh càng nổi danh hơn với những Thời niên thiếu, Hoa rơi trong giấc mộng, Đảo, Bóng tay trái, tuổi tay phải, 1995 - 2005, hạ chí chưa tới, Mê tàng...Người ta nói rằng hơn một nửa học sinh sinh viên Trung Quốc đã mua và đọc tác phẩm của nhà văn trẻ này. Trương Duyệt Nhiên với những tác phẩm có tác động rất lớn đến thanh thiếu niên Trung Quốc như Mèo đen không ngủ, Hủy diệt, Khuôn mặt làm rách thành phố được gọi là nhà văn khái niệm mới. Tác giả của Phong nhũ phì đồn, Đàn hương hình đã viết lời tựa cho 6 tiểu thuyết của Trương Duyệt Nhiên. Các bạn nói thêm với chúng tôi: sách của Quách Kính Minh, Hàn Hàn...xuất bản lần đầu không dưới một triệu bản và thu nhập bằng bàn phím của họ mỗi năm trên 10 triệu nhân dân tệ (gần 30 tỉ tiền Việt Nam)

Nhà văn trẻ Thái Tuấn viết tiểu thuyết trinh thám tung lên mạng sau đó in thành sách lần đầu đạt tới 20 vạn. Thừa thắng xông lên Thái Tuấn viết tiếp tập hai, tập ba, tập tư và được nhà xuất bản tóm ngay in thành sách. Một cây bút trẻ khác là Chu Tiến, tuy chưa phải là hội viên Hội Nhà văn Trung Quốc và đương nhiên là chưa nổi tiếng cũng bắt đầu con đường văn chương như Thái Tuấn. Qua chuyện trò với bạn, tôi có cảm nhận rằng các nhà văn trẻ Trung Quốc đã xác lập được vị trí xứng đáng ở đất nước rộng lớn đông đúc này, không có sự coi thường kỳ thị của các bậc nhà văn cha chú. Ngược lại các nhà văn trẻ cũng dành cho thế hệ cầm bút cha anh sự kính trọng đúng mực. Họ vẫn coi một số tác phẩm của nhà văn Ba Kim là kinh điển và việc nhà văn già dìu dắt phát hiện giới thiệu nhà văn trẻ không phải là hiện tượng hiếm ở Trung Quốc. Chính nhà văn Vương Mông là người dìu dắt giới thiệu Quách Kính Minh vào Hội Nhà văn Trung Quốc và Thiết Ngưng, chủ tịch Hội Nhà văn Trung Quốc hiện nay cũng mới sinh năm Đinh Dậu, 1957.

Tôi thực sự thích thú khi bạn nói về các thế hệ nhà văn Trung Quốc là Tứ đại đồng đường. Bốn thế hệ nhà văn sống chung một nhà. Thế hệ thứ nhất trưởng thành trong chiến tranh (trước 1949); ảnh hưởng của họ hiện nay với bạn viết, bạn đọc trong nước đang giảm dần. Thế hệ thứ hai, từ 1950 đến 1970 nhiều người vẫn đang sáng tác màVương Bột là một điển hình...Thế hệ thứ ba được tính từ cuối 1970 đến những năm 80; thời Trung Quốc cải cách mở cửa.Và thế hệ thứ tư, 8X 9X như ta thường gọi.

Một số tác phẩm của các nhà văn trẻ Trung Quốc được dịch sang Việt Nam bạn đánh giá không cao mà Vệ Tuệ là một ví dụ. Trong các buổi trao đổi với bạn chúng tôi không hề được nghe nhắc đến cái tên này. Bạn cho rằng không nên để văn học Trung Quốc đồng hóa, đồng nhất với văn học thế giới. Trong nhiều tác phẩm của các bạn trẻ chỉ chú tâm miêu tả và tô đậm quá mức đến những dục vọng con người mà không quan tâm tới đời sống hiện tại nhân dân đất nước. Nhà văn trẻ còn thiếu khả năng sáng tác gốc, cần chú ý tới nhiều hơn nữa lý tính trong sáng tác văn chương. Nhà văn thế hệ thứ tư viết linh hoạt hơn nhưng vẫn là lời văn của mạng và phần lớn không có sứ mạng và ít tình cảm. Họ còn phải cố nhiều hơn nữa mới làm được như lòng mong muốn của nhà văn đàn anh, Mạc Ngôn, văn học vĩ đại không bao giờ dừng lại trên tầng diện ảo mộng, nó cần hàm chứa lịch sử, hàm chứa hiện thực rộng lớn và trách nhiệm, hàm chưa cuộc đời thực vụn vặt, gian nan mà cụ thể.

Mười ngày, chưa đủ để thâm nhập sâu và thấu hiểu về các nhà văn trẻ Trung Quốc, tôi nghĩ thế. Vả lại, chưa có điều kiện để đọc các bạn nhiều nên trong bài viết này chỉ mới dám ghi chép lại những cảm nhận về một thế hệ nhà văn trẻ của đất nước từng có Đường thi, Tây du ký, Tam quốc diễn nghĩa, Hồng lâu mộng, Thủy hử, AQ chính truyện...qua mấy cuộc chuyện trò thân mật với các bạn văn Trung Quốc mới thấy văn học hai nước có nhiều điểm tương đồng, có những xu hướng không khác xa nhau mấy và cả những dự định, quan tâm gần gũi lắm. Chỉ tiếc là sự hiểu biết của bạn về văn học nước ta, nhất là văn học đương đại trong đó có phần đóng góp của các nhà văn trẻ không được nhiều nếu như không muốn nói là gần bằng O. Bạn thừa nhận điều đó và yêu cầu chúng tôi giới thiệu một số tác phẩm tiêu biểu trong những năm gần đây cho bạn. Tôi tạm thời mạnh dạn đề cử Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh và Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư. Tôi nói, đây là hai nhà văn trong số hàng trăm nhà văn thời sau chiến tranh chống Mỹ xâm lược của nước chúng tôi, tác phẩm của họ đã được dịch ra nhiều nước trên thế giới, nếu được dịch sang tiếng Hoa và sau khi đọc nó chắc các bạn sẽ hiểu hơn văn học hiện nay của Việt Nam. Con đường thông lưu văn học, trong đó có văn học trẻ giữa hai nước chắc chắn còn nhiều gian nan và phức tạp nhưng lẽ nào ta không hy vọng vào ngày mai khi Hội nhà văn Việt Nam và Hội nhà văn Trung Quốc đang có những việc làm cụ thể thiết thực để hiểu biết và gần nhau hơn mà chuyến đi của chúng tôi chắc cũng không nằm ngoài mục đích thân thiện tốt đẹp đó.

                 Đồng Xa, ngày 26 tháng 12 năm 2009


Chiếc bình gốm ghi tên các nhà văn thuộc Hội Nhà văn Trung Quốc đặt tại Bảo tàng Văn học TQ.