Quán thơ ở cuối dòng sông: Tắm máng

By Sinh ở cuối dòng sông

TẮM MÁNG

 

Trên bản có một cái khe

Trên khe có một lùm cây

Ở dưới lùm cây có một cái máng

Chảy ra một dòng tươi mát

Chảy ra một dòng ánh sáng

Mơn man làn mây buông xõa

Mơn man vầng trăng nõn nà

 

Làn mây ấy

Vầng trăng ấy

Cả ngày dấu mình trên nương ruộng

Cả ngày dấu mình trong nắng lửa

Để bây giờ hiện ra

Làm dịu mát cả bầu trời mùa hạ

Để đêm lại bay vào cổ tích dân ca.

                                               

                               Lò Ngân Sủn

alt

Lời bình của Nguyễn Hữu Quý:

Tắm máng là một cách tắm quen thuộc của các cô gái vùng cao phía Bắc. Những dòng nước trong lành từ khe từ suối chảy vào máng rồi  tiếp tục chảy xuống người tắm. Trong bài thơ này Lò Ngân Sủn đã vẽ ra cho ta thấy một chiếc máng tắm như thế: "Trên bản có một cái khe/ Trên khe có một lùm cây/ Ở dưới lùm cây có một cái máng". Dễ hình dung quá đúng không! Chỉ lưu ý thêm hình ảnh "Ở dưới lùm cây có một cái máng". Nơi tắm của các cô gái cần phải kín đáo do đó cái máng tắm không thể không có một lùm cây che. Lùm cây như chiếc ô của núi che các cô gái bản thuần phác hồn nhiên.

Nhưng điều chúng ta phục nhất ở nhà thơ miền núi này là nói đến tắm mà không hề dùng một chữ nào về nước và người. Thế mà khi đọc bài thơ thì hình ảnh nước và hình ảnh cô gái vùng cao đẹp người đẹp nết  đang tắm máng cứ hiện lên mồn một trước mắt ta.

Nước được thay thế bằng các hình ảnh: "Chảy ra một dòng tươi mát/ Chảy ra một dòng ánh sáng". Nước khe trong vắt chảy từ máng ra đúng là "một dòng tươi mát" rồi nhưng khi nó được ví như "một dòng ánh sáng" thì lung linh ngời ngợi quá. Ánh sáng đây là ánh xạ của nước của bầu trời của vầng trăng hay là từ thân thể của các cô gái tỏa ra? Có lẽ tất cả tất cả hòa lẫn vào nhau tạo ra vẻ đẹp long lanh nơi chốn sơn khê xa tít. Và cái dòng tươi mát cái dòng ánh sáng ấy "Mơn man làn mây buông xõa/ Mơn man vầng trăng nõn nà". Người đẹp giấu mình trong mây trong trăng. Tóc như làn mây buông xỏa thân thể như vầng trăng nõn nà. Một cách so sánh ngầm ý tứ kín đáo vừa đủ cho ta chiêm ngưỡng vẻ đẹp tự nhiên mượt mà đằm thắm của các cô gái vùng cao.

Nhưng đấy không phải là người đẹp ở trong lâu đài đâu nhé. Nét đẹp nét duyên ấy là của những cô gái chịu thương chịu khó làm lụng vất vả. Trong nắng gió miền rừng bóng người đẹp in trên những thửa ruộng bậc thang những nương lúa nương ngô chênh vênh sườn núi. Họ cần cù làm ra cái ăn cái mặc cho đời và dù gian lao cực nhọc đến mấy vẫn không đánh mất cái duyên cái đẹp của mình. "Làn mây ấy/ Vầng trăng ấy/ Cả ngày dấu mình trên nương ruộng/ Cả ngày dấu mình trong nắng lửa". Và chính họ những cô gái tắm máng ấy tỏa vào bầu trời mùa hạ những dịu mát bao la và chắp cánh cho đêm vùng cao bay vào miền cổ tích dân ca thăm thẳm.

Không nhiều câu chữ khi mộc mạc nôm na khi kín đáo mượt mà sử dụng rất giỏi phép hoán dụ so sánh Lò Ngân Sủn tác giả của bài thơ "Người đẹp" rất nổi tiếng lại cho ta  một thi phẩm "Tắm máng" thật bay bổng mơ màng. Có thể xem đây là một "Người đẹp" khác của Lò Ngân Sủn chăng?

   

More...

Quán thơ ở cuối dòng sông: Cái roi ngày ấy

By Sinh ở cuối dòng sông

 

CÁI ROI NGÀY ẤY

alt

Ngày nào con nghịch con chơi

Bỏ nhà đi suốt một hơi tối ngày

Làn roi rơi xuống thân gầy

Làm đau tay mẹ làm cay mắt bà

 

Bây giờ con ở đâu xa

Nắm xương không cửa không nhà mãi đi

Trường Sơn một dải xanh rì

Đất đen đất đỏ đất gì chôn con

 

Chân run quờ chiếc gậy mòn

Sợ cầm phải cái roi còn đâu đây.

                                                      Đinh Phạm Thái

Lời bình của Nguyễn Hữu Quý:

Cái roi trở thành “vật trung tâm” kết nối những người thân trong nhà lại với nhau qua một câu chuyện vô cùng xúc động. Câu chuyện nhuốm chất bi thương ấy trải dài suốt cả cuộc đời của một người con trai bắt đầu từ tấm bé đến tuổi thanh niên vào bộ đội và hy sinh ở chiến trường. Câu chuyện ấy chính là hồi ức của người cha về đứa con trai thân thiết của mình bắt đầu từ chiếc roi “dạy” con hồi nhỏ. "Ngày nào con nghịch con chơi/ Bỏ nhà đi suốt một hơi tối ngày/ Làn roi rơi xuống thân gầy/ Làm đau tay mẹ làm cay mắt bà". Đứa trẻ nghịch ngợm ham chơi và ông bố cũng thật nghiêm khắc với con mình. “Thương cho roi cho vọt” là cách dạy con của các ông bố trước đây. Một làn roi rơi xuống tấm thân gầy của con là một nỗi đau của mẹ là một xa xót của bà. Mẹ thương con bà yêu cháu tình cảm máu mủ tự nhiên ấy xưa nay đều vậy. Chỉ bốn câu thơ mà làm nổi bật rõ tính cách của bốn người: bà cha mẹ con. Tính điển hình khái quát rất cao.

Lẽ ra việc “dạy” con bằng roi bằng vọt như thế cũng bình thường thôi không làm cho người cha xót xa ân hận lắm nếu như con vẫn sống và trưởng thành ở trên cõi đời này. Chiến tranh xảy ra chú bé mảnh khảnh mới ngày nào "Bỏ nhà đi suốt một hơi tối ngày" bị cha đánh đòn ấy đã trở thành anh bộ đội và hy sinh vì bom đạn giặc trên dãy Trường Sơn.

Cái chết của người con liệt sĩ được diễn tả rất xúc động qua những câu thơ như chắt ra từ nước mắt: "Bây giờ con ở đâu xa/ Nắm xương không cửa không nhà mãi đi/ Trường Sơn một dải xanh rì/ Đất đen đất đỏ đất gì chôn con". Trong tâm thức của cha mẹ và những người thân con trai mình đang ở đâu đó rất xa không rõ địa chỉ trên Trường Sơn thăm thẳm điệp trùng. Có không ít những người lính của ta hy sinh chưa tìm ra hài cốt hay tìm được nhưng không rõ tuổi tên được gọi là liệt sĩ vô danh. Câu "Đất đen đất đỏ đất gì chôn con" được ngắt ra thành ba nhịp nghe thổn thức như những tiếng nấc nghẹn ngào và lối hỏi tu từ càng làm sâu thêm nỗi đau thương của người còn sống.

Đấy chính là nỗi đau vô hạn của cảnh ngộ "Lá xanh rụng xuống lá vàng trên cây". Bởi vì thế nên khi tuổi già gối mỏi mắt mờ người cha tìm gậy cứ sợ đụng phải chiếc roi dạy con thời xa xưa. "Chân run quờ chiếc gậy mòn/ Sợ cầm phải cái roi còn đâu đây". Cái roi ngày ấy trở thành nỗi ám ảnh hằn sâu những vết  day dứt đau xót của người cha đối với người con trai yêu dấu đã đi vào cõi hư vô.

alt

Ngủ rừng Trường Sơn

Ảnh st trên NET

 

More...

Những cuộc đi từ Nhà số 4

By Sinh ở cuối dòng sông

NHỮNG CUỘC ĐI TỪ NHÀ SỐ 4

Nguyễn Hữu Quý

Cuộc đời tôi bắt đầu chuyển sang trang khác khi bước qua cổng Nhà số 4 – Tạp chí Văn nghệ quân đội có cặp đại già trầm tư đứng gác hai bên. Đó là vào ngày 9 tháng 3 năm 1997. Thực ra quyết định điều động tôi về Văn nghệ quân đội của Bộ Quốc phòng ký từ tháng 12 năm trước nhưng do công tác bàn giao ở đơn vị nên đến ngày đó tôi mới có mặt ở Tạp chí.

Thời gian trôi nhanh thật mới đó mà đã 14 năm. 14 năm ấy tôi có nhiều kỷ niệm vui buồn với Nhà số 4 nơi mà trước đây một người cầm bút vốn “làng nhàng tỉnh lẻ” như tôi chưa bao giờ mơ đặt chân vào. Trời thương hay được các liệt sỹ phù hộ ( do viết một số bài thơ về các anh chị: Bông huệ trắng; Khát vọng Trường Sơn) như bạn bè thường nói nên tôi mới “thành” như ngày nay? Và tôi cũng mang cái tâm cảm ấy trong hành trình sáng tác trong cuộc đời mình nên khi trường ca Vạn lý Trường Sơn xuất bản tôi đã mang vào Nghĩa trang liệt sỹ quốc gia Trường Sơn ở thượng nguồn sông Bến Hải để thắp hương hóa vàng như một cách báo cáo tri ân trước anh linh những người lính hy sinh cho Tổ quốc.

14 năm ấy khi ngoảnh lại quá khứ tôi cảm nhận được khá đầy đặn hạnh phúc mình có khi được là đồng đội gần gũi của những nhà văn quen thuộc như Dũng Hà Hồ Phương Nguyễn Chí Trung Nam Hà Phạm Ngọc Cảnh Nguyễn Trí Huân Lê Thành Nghị Nguyễn Bảo Lê Lựu Nguyễn Thị Như Trang Nguyễn Đức Mậu Anh Ngọc Vương Trọng Chu Lai Khuất Quang Thụy Trung Trung Đỉnh Trần Đăng Khoa Hồng Diệu Ngô Vĩnh Bình…và sau này là những bạn viết như Đỗ Viết Nghiệm Nguyễn Quốc Trung Sương Nguyệt Minh Nguyễn Hòa Nguyễn Bình Phương Nguyễn Đình Tú Đỗ Bích Thúy Nguyễn Thanh Tú Thái Nam Anh Phạm Duy Nghĩa Phùng Văn Khai Đỗ Tiến Thụy Nguyễn Thế Hùng Nguyễn Mạnh Hùng Đoàn Minh Tâm Đoàn Văn Mật…Hai họa sỹ tên Hải một họ Quách tên lót Đại một họ Nguyễn tên lót Xuân cũng để lại trong lòng tôi nhiều thương mến. Cũng vậy nhiều anh chị em nhân viên hành chính như Phạm Huy Tưởng Lê Hồng Quân Nguyễn Xuân Kiểm Trần Thị Lâm Trần Thị Bình Vũ Thị Thơm Phạm Như Quỳnh Duy Quang…đã cho tôi những tình cảm đẹp. Bây giờ có bác đã thành cỏ xanh miên man mặt đất có bác là ngọn khói mong manh bay lên trời có anh chị đã nghỉ hưu có người đang tại ngũ.

Đêm nằm nghĩ ngợi gần xa không thể không tự vấn về ứng nhân xử thế của mình. Bởi cuộc đời có dài lắm đâu chứ! Tướng Dũng Hà mới hôm nào còn vạm vỡ hồng hào gặp gỡ đàn em là thích nói nhiều nói sôi nổi mà nay đã thành người thiên cổ. Họa sỹ Quách Đại Hải gầy gò chưa xa lắm còn thi thoảng lên phòng tôi “xin” chén rượu Ba Đồn nhâm nhi nhắc chuyện thời chiến tranh nơi quê bọ. Mới hôm nào anh còn hát chèo i hi và tường thuật bóng đá trên chuyến xe lên Điện Biên cho chúng tôi nghe và khi về hưu chăm chút cho 4 cái vui thích của mình là “vẽ viết vườn vợ” mà nay cũng ra đi rồi.

Cuộc đời có dài lắm đâu chứ! Mới ngày nào tôi đặt chân vào Nhà số 4 tóc chưa sợi bạc rụt rè xách chai rượu Kim Long (đặc sản Quảng Trị quê vợ tôi) sang mừng căn hộ mới của anh Nguyễn Bảo Nguyễn Đức Mậu ở 8 Lý Nam Đế mà nay đầu đã hoa râm mặt mũi nhàu nhĩ lắm rồi. Vô vàn em chân dài giữa chốn Hà thành kính cẩn chào ông chào bác. Còn nhớ anh Ngô Vĩnh Bình dắt cái thằng lớ ngớ là tôi sang quân y báo Quân đội làm quen để khi nhức đầu sổ mũi còn biết chỗ xin thuốc. Nhớ Khoa “cuội” đưa tôi và Trần Thanh Hà đi ăn cơm bụi ở quán Gầm cầu mà hắn ta không thèm gọi cho tôi một cốc bia chén rượu nào và thi sĩ thần đồng quá nổi tiếng này ung dung lôi từ trong túi xách ra một chai nước mắm miền Trung cực ngon chiêu đãi chúng tôi ăn cho đỡ nhớ quê. Nhớ Ban Thơ yêu dấu của tôi thời ấy sao mà ấm áp đến thế. Các nhà thơ Nguyễn Đức Mậu Vương Trọng Anh Ngọc thực sự coi tôi như em rất nghiêm khắc trong biên tập nhưng lại hay “chiều” tôi ưu tiên cho tôi trong bình xét khen thưởng hàng năm. Bây giờ và mai sau trong tâm cảm của tôi các anh vẫn là những “hiền nhân” tuy làm người khó mà mười phân vẹn mười không mắc tật này cũng chứng khác. Tôi có lớn lên được chút nào cũng đều có phần đóng góp của các anh những nhà thơ mang áo lính ấy. Đấy là tôi nói thực lòng không xã giao đãi bôi vì đến độ quá ngũ thập tri thiên mệnh này đó là điều không nên. Nguyễn Đức Mậu hay nói với tôi: làm nghề biên tập phải công bằng và vô tư; tác giả có mắng mỏ mình mà thơ họ hay thì vẫn phải đăng. Đấy là lời anh nói thời tôi còn làm biên tập viên thơ lính của anh. Anh Vương Trọng cũng hay góp ý cho tôi về biên tập cũng như sáng tác. Có bài thơ tôi làm xong đưa anh đọc Vương Trọng góp ý thẳng thắn: mình thấy Quý viết như thế này là hơi tùy tiện phần đầu và phần sau không kết dính nhau bài thơ này có thể tách thành hai bài được. Làm văn chương cốt yếu phải có tài song khi tài năng có hạn mà được sống và viết trong môi trường như Văn nghệ quân đội theo tôi là may mắn. Đó là không gian của sáng tạo nơi tập hợp nhiều nhà văn có tiếng của đất nước nơi lui tới của khá đông bè bạn cầm bút mình dễ được khơi nguồn cảm hứng và có thời cơ học hỏi về nghề.

14 năm qua từ Nhà số 4 này tôi có nhiều chuyến đi bổ ích. Những chuyến đi bồi đắp thêm vốn sống và cảm hứng sáng tạo văn học. Cứ nhớ nhớ lâu chuyến đi thực tế đầu tiên của tôi và nhà văn Đỗ Viết Nghiệm xuống Sư đoàn 312 mang tên Chiến Thắng viết về tân binh. Theo nhiệm vụ mà Tổng biên tập Nguyễn Trí Huân giao là tôi làm thơ và Đỗ Viết Nghiệm viết bút ký. Hai anh em lóc cóc lên đường xuống đơn vị đi hết chỗ này sang chỗ khác từ thao trường đến nhà ở nhà ăn mà vẫn chẳng thấy xuất hiện ý thơ tứ thơ nào. Lo quá! Nhiệm vụ ban đầu Tổng biên tập giao mà không hoàn thành thì xấu hổ lắm. Hay ta chuyển sang “trả bài” bằng văn xuôi nhỉ. Không được đấy là phần của Đỗ Viết Nghiệm. Đang loay hoay liệu tính thì Đỗ Viết Nghiệm nhận quyết định vào thành phố Hồ Chí Minh làm trưởng đại diện Văn nghệ quân đội phía Nam nên không viết bài kịp. Thế là tôi xin phép viết bút ký lấy tên Khẩu súng B40 cây đàn gỗ và những chàng lính trẻ. Bài bút ký được in ngay vào số tháng 5 năm 1997. Bài văn xuôi đầu tiên in VNQĐ. Trong giao ban được phó Tổng biên tập phụ trách nội dung Lê Thanh Nghị biểu dương. Sướng quá sướng ngơ ngẩn sướng âm ỉ đến mấy tuần liền. Nhớ nhớ mãi chuyến đi Hà Giang năm 1998. Tôi được phân công đưa các cây bút trẻ - học viên lớp viết văn do VNQĐ mở - đi thực tế ở vùng Cực Bắc xa xôi heo hút này. Trung úy Nguyễn Đình Tú lúc ấy chưa về Tạp chí ta rất thư sinh đẹp trai (chứ không phải là “Tú Béo” như bây giờ) cũng có mặt. Lúc này tôi đưa con gái ra Hà Nội học lớp 8 mới được một tuần. Lên đường đúng rằm tháng tám. Trung thu. Thương con lắm nhưng không thể thoái thác nhiệm vụ. Chiều hôm trước dẫn con ra Hàng Mã mua đèn ông sao trống cơm và ra chợ Hòe Nhai mua bưởi na về bày cỗ. Đêm mười bốn hai bố con lên sân thượng đón Trung thu trước. Cũng nến cũng đèn ông sao cũng mâm quả con hát véo von bố đánh trống tùng tùng. Thương con sống mũi cứ cay cay. Chuyến đi vào mùa mưa đường sá lầy lội sạt lở trơn trượt khá nguy hiểm. Đoạn đường vào đồn Bạch Đích và Phó Bảng chênh vênh trơn như đổ mỡ lái xe sợ không an toàn nên bảo anh em xuống đi bộ. Lên Bạch Đích gặp đồn trưởng Bằng cười như nứa vỡ thích thú khi thấy cây đào nở hoa sớm rượu uống theo kiểu cạn chén bắt tay. Về viết được bút ký Nở sớm hoa đào Bạch Đích và bài thơ Với một lần Hà Giang in VNQĐ. Nguyễn Đình Tú có bút ký Bên cột mốc số 9 rất sinh động và tươi trẻ in Văn nghệ quân đội sau đó được giải thưởng của Bộ đội Biên phòng cùng với bút ký Nở sớm hoa đào Bạch Đích của tôi.Tôi với Sương Nguyệt Minh cũng gắn bó với nhau trong không ít lần đi thực tế. Vào đèo Đá Đẽo miền Tây Quảng Bình viết về bộ đội công binh rà phá bom mìn để làm đường Hồ Chí Minh CNH-HĐH. Chuyến đi có thêm nhà văn Nguyễn Thị Như Trang và Quỳnh Linh. Ăn ở sinh hoạt cùng bộ đội giữa rừng. Thấy tận mặt những quả bom phá 3000 bảng Anh những rổ bom bi những quả sát thương chưa nổ bị anh em ta đào lên và vô hiệu hóa. Nghe được câu chuyện tình cảm động của một chiến sỹ công binh quê Lương Sơn Hòa Bình với một cô gái ở Quảng Bình. Hai người yêu nhau tha thiết và đã hẹn ngày ra mắt gia đình. Anh chiến sỹ hy sinh trong khi tháo gỡ bom cô gái xin gia đình chịu tang như phận sự của một người vợ. Những câu chuyện chi tiết ấy đã đi vào bút ký của Sương Nguyệt Minh Nguyễn Thị Như Trang Quỳnh Linh rất xúc động và sau chuyến đi gian khổ mà ấn tượng này tôi cũng làm được bài thơ Những cảnh rừng còn nhiều bom đạn địch. Trong trận lụt lịch sử năm 2000 ở Thừa Thiên Huế tôi cũng với Sương Nguyệt Minh bay nhờ máy bay quân sự vào nơi đó. Một chiếc cánh quạt AH cũ kỹ ( Nguyễn Hòa nói đùa là sót lại từ chiến tranh thế giới lần thứ 2 của Liên Xô) chở hàng cứu trợ và hai nhà văn mang quân phục. Ngồi bên những thùng mì tôm nước lọc và cả bánh chưng tôi chỉ nghe ù ù ì ì tiếng động cơ. Bầu trời âm u. Vào miền Trung mây mù tràn cả vào khoang hàng hóa mịt mờ xám xịt. Máy bay lượn chục vòng vẫn không hạ cánh được. Lo. Vợ con đang vất vả thơ dại. Có mệnh hệ gì thì mình an phận là “liệt sỹ” rồi nhưng hai thằng cu Tý; Tý anh Tý em của Sương Nguyệt Minh bé Mai Sao bé Hòa Bình và cu Minh của tôi còn bé lắm thơ dại lắm. Mình mất vợ có thể tìm được chồng mới nhưng con cái thì vĩnh viễn mất cha. Nghĩ mà nao lòng xót dạ. Trời! Ra đi mà không một lời trăng trối với người thân yêu. Lúc ấy hai đứa tôi làm gì có điện thoại để gọi về nhà vĩnh biệt. Có ra đi thì sẽ ra đi trong im lặng. Vô cùng im lặng. Ầm một phát trong một sát – na thế là thân xác tan vào không trung hồn ta hồn bạn Sương Nguyệt Minh ạ sẽ thành mây trắng lang thang muôn nơi. May. Cuối cùng máy bay cũng hạ cánh được xuống sân bay Phú Bài. Sống rồi. Ha ha. Hai thằng ôm nhau. Cười. Lại xin nhờ trực thăng lên A Lưới. Lần này có thêm Quỳnh Linh (bay vào trước). Lại chui vào mây lại len lỏi qua núi. Máy bay hạ cánh dân xúm đen xúm đỏ. Mì tôm nước lọc thuốc men bốc ra. Dân mắc kẹt lụt ào vào xin quá giang về Huế. Chen chúc. Ồn ã. Không sao dẹp được. Tôi bị dân dẫm tụt cả giày văng mất mũ. Sương Nguyệt Minh bị dân túm áo rách toạc một tay lủng là lủng lẳng như tàu lá chuối phất phơ. Quỳnh Linh bị giữ chặt như một con tin. Dở khóc. Dở cười. May. Cuối cùng cũng dẹp yên. Máy bay phành phạch bốc lên. Sau chuyến đi chúng tôi đều có bài và giải thưởng báo chí toàn quốc năm đó VNQĐ được trao giải A tập thể cho những bài viết về bão lụt (gồm Nguyễn Bảo Sương Nguyệt Minh Quỳnh Linh Nguyễn Hữu Quý).

Chuyến đi Trường Sa cũng cho tôi nhiều ấn tượng khó phai. Sau 15 ngày lênh đênh trên lãnh hải thân yêu của Tổ quốc qua nhiều đảo nổi đảo chìm của Trường Sa tôi viết được khá nhiều bài bút ký thơ và cả chuyện tình dưới đáy ba lô in Văn nghệ quân đôi Văn nghệ Nhân dân cuối tuần Quân đội nhân dân…

Những chuyến đi từ Nhà số 4 tuy vất vả gian khổ nhưng thật có ích cho người cầm bút. Bây giờ tuổi không còn trẻ sức không còn sung nhưng cái máu xê dịch trong tôi vẫn đầy. Mỗi khi nghe ai gọi đi đâu đó trong lòng lại rạo rực xốn xang. Những chuyến đi khởi hành từ Nhà số 4 vẫn còn hấp dẫn tôi biết mấy!

Đồng Xa Tháng 4 năm 2011

alt

Những đầu đao quen thuộc ở mái Nhà số 4

Ảnh Thanh Khê

More...

Trường Sa Hoàng Sa trong trái tim ta: Khúc tưởng niệm

By Sinh ở cuối dòng sông

Nguyễn Đức Mậu

KHÚC TƯỞNG NIỆM

Kính viếng hương hồn 64 cán bộ chiến sĩ tàu HQ604 và HQ605 đã anh dũng hy sinh ngày 14.3.1988

 

Chúng tôi thả hoa thắp hương trên biển

Tưởng niệm những người lính đảo hy sinh

Biển cùng lúc trào lên từng đợt sóng

Trời thả mây tang sóng trắng dập dềnh

 

Sóng vỡ òa gọi tên các anh

Tên những miền quê xa xăm thương mến

Các anh hy sinh thịt xương hòa biển mặn

Có lẽ nào lòng mẹ hóa mồ sâu?

 

Hoa trôi về đâu hoa trôi về đâu

Hoa hồng thắm

Hoa cúc vàng

Hoa huệ trắng

Vong hồn các anh lưu lạc phương nào

 

Thay cho màu cỏ thanh minh là xanh rợp trời cao

Thay cho dòng tên khắc trên bia là trùng trùng sóng trắng

Thay cho đất nâu là vô cùng biển thẳm

Các anh chết rồi tên tuổi cũng lênh đênh

 

Các anh là cây phong ba nắng táp bốn mùa xanh

Là cây thông bền gan bám đá

Là mô đá chênh vênh đảo nhỏ

Là chấm lửa đêm dày cánh hải âu bay

 

Những bông hoa trôi hoài trên sóng

Nén hương cháy tan vào gió mặn

Chúng tôi nghiêng mình trên biển sớm mai nay

 

                                                        Biển Đông 10/4/2003

alt

Xuân về bên cột mốc chủ quyền

Ảnh Lê Bá Dương

 

 

More...

Trường Sa Hoàng Sa trong trái tim ta: Gặp bạn Trường Sa

By Sinh ở cuối dòng sông

Phạm Minh Dũng

GẶP BẠN TRƯỜNG SA

 

Chuyện ở đảo mười năm

Lời anh nói bay qua ngọn lửa

Bay sang tôi ấm đến nồng nàn.

 

Ngọn lửa thắp sáng lại thời gian

Hai mươi mùa nắng mưa giông bão

Nụ cười chàng trai đảo

Âm vang tiếng sóng trùng khơi.

 

Mái đầu chớm bạc tuổi bốn mươi

Bạn vẫn trẻ như là ngọn lửa.

 

Tôi như nghe tiếng của mồ hôi

Suốt mười năm gõ vào mặt đá

Sắc biển xanh hằn trên nền áo cũ.

 

Anh cời cho ngọn lửa sáng lên

Lửa reo vui lửa bập bùng lửa hát

Ngọn lửa mười năm anh nuôi nấng.

 

Và ngoài kia sóng biển đang reo

Tôi nắm chặt bàn tay người lính đảo

Cảm nhận vết chai cao hơn giông bão

Cảm nhận Trường Sa đâu đó rất gần

                                               1997

alt

More...

Trường Sa Hoàng Sa trong trái tim ta: Trường Sa

By Sinh ở cuối dòng sông

Phạm Ngọc Cảnh

TRƯỜNG SA

 

Gọi tên hòn đảo ấy

như lời thề trang nghiêm

như chỉ có một lần

bút cày lên mặt giấy

họ tên mình chôn cất

tổ tiên mình khấn vái

như mẹ cha trang trải

suốt một đời nợ nần

định hình lên Tổ quốc

từ đảo ngoài xa xanh

 

Ôi tình yêu xứ sở

có linh hồn đảo nhỏ

máu thịt mình chia ra

chẳng bóng tre Đằng Ngà

mát xuống vai người lính

vậy mà chiều lặng tĩnh

tiếng sáo biết lượn về

cho đất liền đêm nghe

hướng đi từng bợn sóng

hướng lẩn lùi tàu giặc

dăng quỷ kế rập rình

dàn bày trăm thói tục

chực quẫy vào sóng đục

nổi lập lờ chênh vênh

 

Khi ngẩng mặt lên tìm

ra ngoài kinh độ vắng

mặt biển chiều sạm nắng

em nghĩ gì đây em

em thương nhiều không em

người lính mình tâm tưởng

khỏa chân trên sóng viền

người lính mình nhắc tên

chừng vừa xong phiên gác

mắt vẫn còn đăm chiêu

áo đẫm xanh thủy triều

đang nhìn mình đấy nhỉ.

 

Một nửa cuộc đời thường

trong ta người lính gửi

để dấu chân tuần tra

đặt xanh biển hải giới

và mỗi ngày lắng lại

và mỗi đêm thâm trầm

Trường Sa là tên gọi

Trường Sa là tiếng dội

vang suốt bờ lương tâm…

alt 

Trạm khí tượng thủy văn Song Tử Tây

Ảnh Lê Bá Dương

More...

Trường Sa Hoàng Sa trong trái tim ta: Hải đồ vẽ bằng máu

By Sinh ở cuối dòng sông

Đỗ Nguyễn Lan Phương

(Đài phát thanh – truyền hình Khánh Hòa)

HẢI ĐỒ VẼ BẰNG MÁU

Gạc Ma! Gạc Ma!
Ngày 14 tháng 3
Hai mươi ba năm về trước
Máu của hơn 60 trái tim cháy lên thành đuốc
Sáng rực đảo chìm.

Súng kẻ tham lam nã cuồng điên vào khát vọng Hòa Bình
Cuộc chiến đấu không cân sức
Tiếng đạn pháo át tiếng loa ôn hòa nhất mực
Đau đớn thay - Tay lại chặt Chân mình!(*)

Hy sinh cho Tổ Quốc quyết sinh
Người chiến sĩ Hải Quân Việt Nam quyết không lùi bước
Máu anh nhuộm đẫm màu cờ Tổ Quốc
Máu vẽ đỏ đại dương
Khẳng định rõ thêm một vùng bờ cõi!

Gạc Ma! Gạc Ma!
Trường Sa! Trường Sa!
Máu Việt thấm vào thềm Hoa San Hô Đỏ…

------------------

 (*) Lấy ý từ câu ca dao: Anh em như thể tay chân…

alt

More...

Trường Sa Hoàng Sa trong trái tim ta: Thơ tình người lính biển

By Sinh ở cuối dòng sông

Trường Sa Hoàng Sa trong trái tim ta : Thơ tình người lính biển

Trần Đăng Khoa

THƠ TÌNH NGƯỜI LÍNH BIỂN

Anh ra khơi

Mây treo ngang trời những cánh buồm trắng

Phút chia tay anh dạo trên bến cảng

Biển một bên và em một bên

 

Biển ồn ào em lại dịu êm

Em vừa nói câu chi rồi mỉm cười lặng lẽ

Anh như con tàu lắng sóng từ hai phía

Biển một bên và em một bên…

 

Ngày mai ngày mai khi thành phố lên đèn

Tàu anh buông neo dưới chùm sao xa lắc

Thăm thẳm nước trời nhưng anh không cô độc

Biển một bên và em một bên…

 

Đất nước gian nan chưa bao giờ bình yên

Bão táp chưa ngưng trong những vành tang trắng

Anh đứng gác. Trời khuya. Đảo vắng

Biển một bên và em một bên…

 

Vòm trời kia có thể sẽ không em

Không biển nữa. Chỉ mình anh với cỏ

Cho dù thế thì anh vẫn nhớ

Biển một bên và em một bên…

alt

More...

Trường Sa Hoàng Sa trong trái tim ta: Hào phóng thềm lục địa

By Sinh ở cuối dòng sông

alt

 Phía trước là làng đảo Đá Nam . Ảnh:Lê Bá Dương

Nguyễn Thanh Mừng

 HÀO PHÓNG THỀM LỤC ĐỊA

Chúng tôi đã vùa rất nhiều hình ảnh sang trọng của đại dương trút vào vần điệu xôm trò của những bữa tiệc thơ

Nào yến sào ngọc trai nào đồi mồi san hô nào cánh buồm tung mây ra khơi vào lộng

Tuy nhiên hoa thả xuống nghĩa trang trong lòng biển Đông

Và câu chữ dâng lên linh hồn các anh- những người lính biệt tăm giữa sóng cao gió rộng

Dường như hãy còn quá mỏng

Dù điều ấy có thể các anh không quan trọng

 

Giữa trập trùng tình thế nguy nan các anh vật lộn cùng bão tố đại dương

Sau  dòng điện nghẹn ngào về bộ chỉ huy gửi lời chào vĩnh biệt

Chúng tôi vẫn trùm chăn đọc sách

Chúng tôi vẫn mở vi tính làm thơ

Thả vào diễn đàn sấm rung chớp giật

Những siêu thực những tượng trưng những hậu hiện đại những tân hình thức

Bên cạnh việc đem tên những hành tinh lộng lẫy trên dải thiên hà ra mà lăng xê nhau

Thậm chí ai đó còn mang những bộ phận nhạy cảm trên cơ thể con người ra mà phỉ báng nhau

Dù điều ấy các anh không hề biết

 

Những tiện nghi những ngôn từ những điều kiện sinh tồn tối thiểu của đời người

Các anh cứ giản lược hồn nhiên

Quen việc căng thân mình đầu sóng gió

Quen  cơn bão đánh tên bằng con số

Tít một xóm làng còn có mẹ cha

Những tóc bạc lặng thầm mỗi đêm giao thừa mỗi ngày kỵ giỗ 

Người vợ trên đất liền của anh phải biết cách làm thế nào để không hoá đá

Đứa con trên đất liền của anh phải học cách chống chỏi với sự trống trải của căn nhà thiếu đàn ông trước khi học chữ

Người yêu trên đất liền của anh bần thần trước chiếc nhẫn đính hôn

Thửa ruộng xưa đất liền

Ngõ  phố xưa đất liền

Và bao nhiêu thứ

Phải biết giấu nỗi đợi trông ở góc bờ nào

 

Giữa lúc các anh thương nhớ cồn cào

Thèm một bát canh thiếu phụ

Thèm những tiếng trẻ bi bô bịt mắt bắt dê

Thèm nắm bàn tay người mình yêu tung tẩy dưới những giọt mưa

Chúng tôi ung dung tìm cách vặt lông bóng ngựa thời gian trong quán nhậu

Chúng tôi phức tạp hoá một khái niệm bình thường như kiểu dát kim cương cho cào cào châu chấu

Hoặc lột trần những thần tượng ra cợt nhả tung hê vết sẹo nốt ruồi

 

Cái cách các anh đón bão thế nào

Sẵn sàng trước tàu chìm giàn sập

Quấn quốc kỳ vào người  vĩnh quyết

Kết chùm phao hoặc nhường can nhựa cho nhau trong lúc hết đợt sóng này đến đợt sóng kia quăng ngang quật dọc

Chúng tôi khó mà học được

Khi trời nước điên cuồng

Mọi trường phái cao siêu

Cũng thành bất lực

Mặt biển thiên đường hôm qua

Hôm nay thành địa ngục

 

Ngày nào các anh đã chọn lựa cho mình một tuổi trẻ hiên ngang trước thềm lục địa lênh đênh

Ngày nào các anh đã ăn nhín nhịn thèm giành nước ngọt và sữa đường cho những nạn nhân bốn phương trời các anh vừa cứu sống

Ngày nào các anh ươm bầu bí trong mây trồng rau trên sóng

Chúng tôi rồng rắn trước thiên đình

Dựng một khát khao gây men hùng hồn cho đàn voi tư tưởng

Chui qua lỗ kim trại sáng tác Đà Lạt Đại Lải Nha Trang Tam Đảo Vũng Tàu

Thậm chí đôi lúc cao hứng  còn nhân danh đại diện cho  dân tộc và nhân loại thề độc lúc lồm cồm trong  căn phòng điều hoà rượu bia ngất ngưởng

Những giá trị trường tồn của muôn đời  sẽ được  cất cánh bi hùng  trong trường ca và tiểu thuyết trường thiên

Nếu không trao cho chúng tôi giải Nobel

Viện Hàn lâm Thuỵ Điển đích thị đồ mù loà

Kẻ nảy mực cầm cân hoá quân thối tha vất vưởng

 

Những vòng nguyệt quế ơi xin người hãy anh minh

Tìm địa chỉ những tâm hồn  hào phóng

Dẫu các anh chỉ còn là gió sóng

 

Chúng tôi đang hướng mặt về phía các anh

Đặng tìm ra một khoan dung tỉnh thức

Nghe những cơn bão điên cuồng vẫn khôn nguôi phía trước

Những dự án nhập nhằng  ẩn danh vì dân vì nước

Tiếng đồng tiền chảy vô két bọn maphia

Thật xúc phạm

Nếu đem so với tiếng sột soạt

Của đồng lương phong phanh thời lạm phát

Của đau đớn đồng tiền tử tuất

Bìu ríu cõi dương trần

 

Chúng tôi đã đi bao nhiêu ngày đàng đọc bao nhiêu pho sách để kiên trì thức cùng  trang viết

Nhưng khó mà học được cách bền gan của người thân các anh

Có một người cha từ miền Bắc đi dọc về Nam ghé những bến cảng mà con mình từng trải qua ngắn ngủi đời lính hải quân

Có một người vợ có một đứa con vẫn quen ngồi viết thư và quen ra ngõ chờ thư

Có một người yêu vẫn đêm đêm lau chùi mặt nhẫn

Cầu ước nụ hôn xưa

Như chiếc mỏ neo buông vào lòng cảng

Có thể nào nguội tắt niềm hy vọng

Họ thắp đến cạn cùng ngọn lửa tin yêu

Rằng các anh lưu lạc ở một ghềnh thác An Tiêm hay Robinson nào đó

Sẽ đột ngột trở về dù ba trăm sáu lăm ngày ba nghìn sáu trăm năm chục ngày  hoặc lâu hơn  nữa

 

Sẽ trở về với con thuyền dưa đỏ

Bày lên mâm cỗ Nguyên đán những căn nhà giàn DK1 đoàn M 71 đồng đội các anh trước khi về với mẹ cha về với vợ con

Tiếng reo dội suốt trời cao biển rộng

Lúc ấy như thực thụ những chiến binh   chúng tôi đã đi dọc Trường Sa Hoàng Sa dọc những đảo nổi đảo chìm dọc theo nhiều biến động

Chúng tôi không đẽo gọt ký tự mỹ miều của những kẻ trùm chăn

Chúng tôi không ù oà ảo thuật với mớ triết luận cũ rích lăng nhăng 

Không cưỡng bức thiên nhiên bằng ngôn từ hoá chất

Chúng tôi vừa giở lịch sử nước nhà vừa bước theo dấu chân của binh phu Bãi Cát Vàng đôi chiếu đòn  tre đi khai thác tài nguyên mấy trăm năm trước

Dựng  câu thơ thành  cột mốc chủ quyền

Rằng cha ông vươn mình ra biển lớn

Chểnh mảng nào cũng đắc tội với tổ tiên

Những đọi máu truyền đời qua bài văn tế sống

Hưng vong những vương triều vận mệnh chốn tiền duyên

 

Chúng tôi vùa rất nhiều muối của đại dương làm gia vị cho những bữa tiệc thơ

Dù một nghìn câu có thể chín trăm chín chín rưỡi câu hãy còn nhạt thếch

Dự báo cuồng phong vẫn không ngừng

Nghiệp văn chương khắc nghiệt này không cho phép chúng tôi khôn ngoan ẩn nấp theo cách người mưu sinh

Đem băng hoại đến từng trang viết

Đồng đội các anh sẽ không khó khăn nhiều khi vớt chúng tôi lên và lai dắt phương tiện hành nghề của chúng tôi như lai dắt những nạn nhân

Rồi nhường cho sữa đường nước ngọt

Nhường chỗ ngồi tốt nhất trong khoang tàu nơi câu lạc bộ sĩ quan

Khi cập bờ chúng tôi sẽ khóc

Chúng tôi không mất tăm vào lòng biển nhưng mất tăm trước định mệnh văn đàn

Dù chúng tôi tiếp tục hò hét tiếp tục lập là lập loè  tiếp tục được tài trợ rong ruổi vênh vang

Tiếp tục vỗ ngực xưng tên nhân danh cát bụi bùn lầy trong khi tìm mọi cách chui vào lầu son gác tía

Tiếp tục tự lìa xa chân trời  trượng  nghĩa

 

Có thể chúng tôi canh cánh món nợ vô hình trong sa mạc lãng quên

Dù các anh không hề đếm xỉa

 

Hào phóng thềm lục địa

 

Lữ đoàn 171 Vũng Tàu- Bộ Tư lệnh Hải quân tại TP. Hồ Chí Minh- Hà Nội 10-21/6/2008

 

 

 

 

 

More...

Trường Sa Hoàng Sa trong trái tim ta: Đảo xa vẫn một tiếng làng!

By Sinh ở cuối dòng sông

 

            Đảo xa vẫn một tiếng Làng !

                                                                                   Bài và ảnh: LÊ BÁ DƯƠNG

 L àng ! Tại sao không? khi cũng với những nhà theo đúng nghĩa của cái nhà Việt quần cư với nhau trên mỗi hòn đảo Việt. Và giữa bốn bề sóng nước khơi xa trong mỗi cái nhà Việt với đủ những thế hệ con cháu  trẻ già không chỉ làm nghiêng cả đêm với những  ầu ơ đưa giấc cùng những ríu rít tiếng trẻ  nô đùa dưới tán cây phong ba. Và đến cả những tiếng ó o ..của gã gà trống kiến  báo gọi mặt trời buổi sáng tiếng tục tác lảnh lót  từ chái nhà đảo của “chị” mái mơ chanh choác mỗi ngày rồi tiếng chú ỉn khụt khịt dịch chuyển dọc bãi bờ san hô tiếng meo meo gừ gừ nũng nịnh  của “ả”  mướp khi vào bữa…vốn là thứ âm thanh bình dị muôn thủa sau lũy tre làng quê Việt trong bờ…tất tật đều ấm đầy trong cái không gian làng  Việt quần cư trên tuyến đảo Trường Sa .

Làng! Đó là  một phần đơn nhỏ trong cái hình hài tổ quốc thiêng liêng để  không chỉ dân làng đảo mà cả những công dân  thuần Việt như tôi đều có thể “Nghe sờ” bằng tất cả sự mẫn cảm của các khứu giác trên chính cơ thể của mình.

Làng! Nhớ lại kỷ niệm có được từ bến cảng Trường Sa những ngày cận tết Đinh Hợi – 2007. Vốn quen với phong cách tác nghiệp trên tàu hải quân “đi đảo” sau khi vứt chỏn lỏn chiếc ba lô “con cóc” kỷ niệm hồi lính giải phóng vào góc phòng ngủ giành riêng cho cánh nhà báo cùng “cưỡi sóng” ra đảo lần này   tôi vọt nhanh lên boong đã  nghe tiếng ai đó gần như gào lên:- Giời ơi   đến lùa  mấy con lợn vào chuồng “nhà tàu” cũng ậm à ậm ạch không xong. Mấy ngày sóng ngày gió đưa được lợn ra đến làng đảo mà thành lợn chết mất tết của “nó”  thì các cậu rửa tai ra mà nghe cả làng nó rủa cho mất …tết nghe chửa.

 Trời ạ vẫn là một tiếng Làng mà tôi nghe được trong những lần cùng các công dân Trường Sa cưỡi sóng  ra thăm chuyển  hàng tết ra tuyến làng đảo chắn sóng Trường Sa. Vậy nhưng cái tiếng làng nghe được từ ông đại tá gốc nông dân vùng chiêm trũng Nguyễn Văn Liên nghe có “vị” rất làng.

Chờ khi nhìn đàn lợn được các thanh niên trai tráng đưa gọn gàng vào cái chuồng được quây bằng lưới B40 và tự tay buộc thêm mấy tấm lá dừa trên “mái” chuồng… ông đại tá quay sang tôi giọng mềm và lành như …đất: Ngày tết ngoài bánh mứt đậu nếp… tuỳ  “làng” lớn hay nhỏ đông dân  hay thưa người… mỗi “làng” đều được huyện “cấp” một hay hai con lợn mà phải là lợn sống thực sự thì tết mới ra tết. Nheo mắt dõi về phía biển khơi ông đại tá hào hởi mô tả nguyên cái không gian tết nhất làng đảo rằng cũng như cái làng quê trong bờ những đêm hai chín ba mươi tết  âm lịch không thể thiếu được tiếng “gà kêu lợn éc” cái âm thanh tết nhất đã thấm trong thành vách… tai đó  càng không thể thiếu được ở những làng đảo cách bến xa bờ  hun hút hàng trăm hải lý. Nói nhà báo đừng cho là phóng đại là quan trọng hoá vấn đề. Nhưng đúng là  dân đảo ăn tết không chỉ bằng miệng bằng mắt mà còn ăn tết bằngcả … tai. Thực tế với sự quan tâm đầu tư của  chính phủ của đồng bào cả nước mức sống của dân đảo Trường sa tuy chưa thể dư giả tươi mới như trong bờ song  bát cơm miếng thịt cũng đắp đủ quanh năm. Nhưng là đó thuần là thịt đóng hộp ướp muối cắm cúi ăn cho đủ chất… Duy chỉ dịp tết nguyên đán hàng năm làng đảo mới có con lợn sống để đêm hai chín ba mươi  có cơ hội để được nghe được nhấm nháp được háo hức cái vị tết cổ truyền của làng quê Việt Nam qua cái  tiếng eng éc cứ như vọng  từ sau luỹ tre làng. Nói dại miệng  ngộ nhỡ làng đảo nào tết đó vớ phải  con lợn say sóng  đến “cấm khẩu”  hoặc tồi tệ hơn là …chết   coi như tết năm đó đó làng mất… tết

Làng !  Mùa biển  những ngày cận tết là mùa giông gió. Sau 3 ngày 2 đêm chao lắc nhồi lên hụp xuống giữa những núi sóng lừng lững… bất chợt một sáng mai chấm đảo đầu tiên trong nhóm đảo phía Bắc Trường Sa - đảo Song Tử Tây đã hiện ra và lớn dần trước mũi tàu. Cùng với 3 hồi còi hụ chào đảo và tiếng thiếu tá thuyền trưởng Lê Hải Sơn  phát lệnh thả neo là tiếng ai đó hét lên sung sướng: Làng đảo. Và chỉ mới nghe  một tiếng Làng  thôi   cánh lính đang trong tư thế lử khử vì 3 ngày đêm  nếm trải cuộc hải trình chao lắc như sàng gạo bỗng tỉnh như sáo ùa lên boong mà huơ tay cẫng chân giữa nao nức tiếng reo chào đảo.

Hướng cái nhìn về phía háo hức của những người lính trẻ đại tá Nguyễn Văn Liên thủng thỉnh nói với tôi:- Mỗi lần tàu ra đến  đảo mấy cậu lính trên  tàu vui một trong bờ các dân đảo còn vui  gấp mười. Chẳng gì thì hôm nay cũng là ngày tết sớm với đảo Song Tử Tây.

 Từng mấy mùa vượt sóng cuối năm ra thăm chúc  tết quân và dân trên quần đảo Trường Sa tôi hoàn toàn có thể hiểu và chia sẻ cái cảm giác của những người đón tết trên thềm sóng nước Trường Sa - Những cái tết sớm lần lượt theo tàu đến từng đảo nổi đảo chìm. Âu cũng là nét riêng trong tục đón tết của những công dân giữ  đảo giữa trùng khơi.

Cũng không đợi lâu ngay khi đoàn khách trong bờ theo xuồng cập đảo sau “màn chào hỏi”  theo đúng quân phong quân kỷ… Chưa kịp uống hết chung trà đã nghe  từ bếp Làng  đảo tiếng  “gà kêu lợn éc” rất gợi. Thượng tá trưởng làng đảo Trịnh Lương Vượng xoa tay giọng xứ thanh rất chi trịnh trọng:- Năm hết tết sắp đến nhân dịp khách quý từ bờ ra thăm làng đảo tổ chức thịt gà mổ heo cùng ăn tết đợt 1 với khách.

Sực nhớ  khi chúng tôi cùng đoàn công tác của vùng Đ xuống xuồng ngoài những nếp đậu bánh mứt theo đúng tiêu chuẩn ngày tết tuyệt nhiên không thấy một chú heo nào theo xuồng vào đảo không biết heo đâu mà eng éc thế kia? Đem cái băn khoăn của người thăm làng đảo mà hỏi trưởng làng đảo trưởng hóm hỉnh:- Chú heo giết thịt chiều nay là heo làng đảo nuôi theo phương thức nuôi heo sạch.

Thì ra trong số các làng đảo cánh bắc làng đảo Song Tử Tây có điều kiện tăng gia chăn nuôi. Đặc biệt ngoài gà vịt và  heo nuôi thành đàn đây là làng đảo duy nhất trong quần đảo Trường Sa đưa được bò từ đất liền ra nuôi. Theo trưởng làng hiện tại rau ráng trồng quanh làng đảo tuy không nhiều như ở trong bờ nhưng cũng đủ “chất xanh”. Riêng gà heo bảo đảm để có thể  mổ định kì mỗi tháng một đôi lần cho các công dân làng đảo  có bữa ăn tươi và giúp thêm cho cả “bà con” trạm đèn Hải đăng và trạm khí tượng thủy văn trên làng đảo. Ngày thường đủ chất ngày tết nói gì thì nói cũng hơn hẳn các làng  bạn vì vậy đảo giành suất heo sống trong bờ nhường cho đồng đội ở các khóm đảo chìm  vốn khó khăn hơn.

Làng! Có “hoàn cảnh” vật chất gần như Song Tử Tây nhưng làng  đảo Sơn Ca “ăn” tết kĩ lưỡng và bài bản hơn một chút. Chia sớt gạo thịt đậu nếp làm thành hai phần. Một phần đương nhiên giành cho ngày tết nguyên đán theo lịch tết cổ truyền. Phần khác được ngâm đãi rồi bê ra sân nhà đảo để rồi ngay dưới cột bia chủ quyền ngạo nghễ lá quốc kỳ thay cho cây nêu xua ma trừ quỷ ngày tết cánh lính đảo trổ tài gói bánh chưng bánh  tét với đủ món thịt mỡ dưa hành. Nhoáng trong một chiều chộn rộn đêm đến trên bàn thờ tổ quốc đã có đủ chồng bánh chưng hộp mứt chon chót đôi câu đối đỏ viết thoắng kiểu chữ ông… đồ:  Đón tết luyện kỹ thuật canh đất trời tổ quốc/ Mừng xuân rèn đôi tay giữ biển đảo quê hương. Đôi câu đối với ngữ nghĩa rõ ràng mạch lạc như một lời thề được trình bày đúng cách sáng láng đêm tất niên - dĩ nhiên  là đêm tất niên sớm hơn theo cách đón tết mừng xuân của lính đảo Trường Sa.

Ngẫu hứng từ không gian  tết sớm với đầy đủ thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ các chiến sỹ trẻ đảo Sơn Ca đã  chuyển  “hào khí” của đảo thành đêm Sơn Ca. Cùng vẫn là chương trình hái hoa dân chủ chương trình văn nghệ mừng Đảng mừng xuân của các chiến sỹ trẻ đã nhuốm hẳn sang phía khách thành đêm văn nghệ chung với sự tham gia  của các nhà báo và các thành viên trong đoàn công tác. Rồi trong cái không gian đượm phong chất làng quê đã như chẳng còn câu nệ trẻ già ông đại tá nông dân Nguyễn Văn Liên đã bất ngờ làm sôi thêm không gian tết Làng đảo Sơn Ca khi “xung phong” thể hiện ca khúc Khúc hát  sông quê.  Bài hát với ca từ tha thiết chân quê càng mềm hơn thấm hơn khi được người lính dày dạn trận mạc truyền cảm bằng chính chất giọng chân chất vùng chiêm trũng Gia Viễn Ninh Bình. Một cách hóm hỉnh ông đại tá  “rào chắn” theo kiểu quân sự :- Tôi hát hay thì các đồng chí nghe tôi hát không hay thì các đồng chí cũng … phải nghe!

Đương nhiên giữa cái không gian Làng đảo không thể và không có  ai lại đem so sánh hay dở giữa giọng ca của người vốn quen cầm súng với   giọng ca chuyên nghiệp. Song dám chắc chẳng ai có thể hát hay hơn ấn tượng hơn  bài hát về một con sông quê đầm ấm không gian làng  đảo giữa trùng xa.

Làng! Về hình thức hoàn toàn có thể gọi như vậy cho cả các làng đảo nổi   làng đảo chìm trên quây quần làng đảo Trường Sa tỉnh Khánh Hoà.  Trên các đảo nổi như Trường Sa lớn Trường Sa Đông An Bang Nam Yết Sơn Ca   Song Tử Tây… Mỗi đảo một nét riêng nhưng có chung một cảm nhận khi ta bước vào đảo như  bước vào một  làng quê truyền thống ở trong bờ với những thiết chế hạ tầng  “điện đường trường trạm”!

Về “điện” tuy chỉ là máy nổ pin mặt trời.. song biết căn cơ sắp xếp cũng đủ thắp sáng nghe đài xem ti vi nâng cao đời sống tinh thần cho công dân Làng đảo. Hiện tại khi giao niên từ Kỷ Sửu 2009 sang Canh Dần 2010 đến nay là nguyên hệ thống điện  quạt gió chạy ôm quanh làng đảo. Là thảm pin mặt trời trải dọc các con đường rộng rãi trải bê tông sân làng đảo. Cũng như quanh các trụ sở  UBND xã thị trấn trung tâm một số  Làng đảo ở Trường Sa trong khoảng một năm nay cũng đã  được trang bị cả hệ thống ăng ten tiếp sóng điện thoại truyền hình khiến cái khoảng các giữa các làng quê vốn cách trở biển  bờ bỗng kết lại gần gũi thân thương. 

Về “đường” tựa như trong bờ các cư dân vẫn  sống quần cư thành các làng nghề truyền thống thì trên các đảo nổi có ưu thế hơn đảo chìm một chút về “mặt bằng” cư dân ở đây  được phân định thành những cụm dân cư thích hợp theo chuyên ngành binh chủng chiến đấu. Giữa các cụm dân cư này được nối với nhau bằng những con đường lót bê tông uốn giữa  hàng  cây xanh được các công dân đảo trồng thành hàng thành lối sạch đẹp phong quang. Và điều đặc biệt hơn hẳn các làng quê trong bờ mỗi con đường nhỏ trên các đảo cùng có hẳn một cái tên như: Đường Phan Vinh… đường Trần Đức Phương; đường Thanh Niên cụm 1 đường Chi Đoàn  cụm 2; đường Dừa đường Phong Ba… chững chạc và ấn tượng.

Về “trường” đã đành cuộc sống trên tuyến làng đảo là một ngôi trường lớn cho mỗi công dân chiến sỹ. Song ở mỗi đảo ban chỉ huy đảo đều tạo điều kiện cho các  chiến sỹ trẻ biến ngôi nhà làng đảo thành trường lớp để giúp nhau học thêm ôn tập chờ hết nghĩa vụ sẽ về đầu quân thi vào các trường đại học. Chỉ riêng đảo làng Sơn Ca năm đó  đã có hẳn gần 20 “cậu tú” được chia thành hai lớp chuyên A và  B để ôn văn luyện toán ... Và mới đây cùng với hàng chục nóc nhà dân từ đất liền ra sinh cơ lập nghiệp làng đảo có thêm  hẳn một hệ thống trường học theo phương thức “trường xen lớp đúp” do  cô giáo trẻ Bùi Thị Nhung cùng chồng và con gái hơn 2 tuổi tình nguyện rời quê Suốt Cát Khánh Hòa để mang cái chữ đến  với các em nhỏ nơi làng đảo Trường sa.  

Hiện tại ngày hai buổi sáng mẫu giáo và lớp 1 chiều lớp 2 3… cuối kỳ tổ chức chấm điểm thi cử và  sau đó gửi quyết định lên lớp và học bạ vào đất liền để sau này Phòng giáo dục cấp bằng cho các em theo đúng quy chế của ngành.

Về khoản “trạm” đương nhiên làng đảo nào cũng có một trạm quân dân y. Nhỏ như làng đảo chìm thì một bác sỹ đa khoa một bộ phẫu thuật nhẹ một tủ thuốc đủ chủng loại…Lớn như làng đảo nổi có hẳn cả một phòng điều trị có đủ phòng khám giường bệnh vườn thuốc nam…  Và từng có  từ cái “trạm” của làng đảo với sự tăng cường của dàn bác sỹ Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 đúng 12 giờ 5 phút ngày 16/5/2009 công dân đầu tiên được sinh ra an toàn tại bệnh xá quân - dân y thuộc xã đảo Song Tử Tây  huyện đảo Trường Sa tỉnh Khánh Hoà…

Ấy là là mới chỉ là vẻ bên ngoài từ làng đảo nổi có điều kiện “thiên thời địa lợi” đến các làng đảo chìm giữa không gian nhà đảo chơi vơi trên sóng nước vẫn được tổ chức theo chuẩn “An toàn sạch đẹp tươi vui”. Chỉ qua  lối phân định cụm dân cư theo điều kiện riêng mỗi làng đảo cũng tự nhiên tạo nên phong cách riêng trong quan hệ giữa các  công dân trong từng cụm đảo theo kiểu  quan hệ xóm giềng. Ngày thường có cuộc  giao lưu giao kết hoặc giả có bữa tươi các công dân chiến sỹ chào gọi nhau nhà này khóm nọ  đầm ấm thân thương đầy “tình làng nghĩa xóm”. Chỉ riêng điều đó cũng khiến những  ai từng đến các điểm làng đảo nổi đảo chìm trên toàn tuyến quần thể làng đảo Trường Sa vẫn không thể quên được  ấn tượng đẹp về một cuộc sống biển đảo được tổ chức chặt chẽ khoa học ngăn nắp và sạch đẹp… Đương nhiên để duy trì cuộc sống chỉn chu một môi trường làng  đảo trong lành an toàn… các làng đảo đều có hẳn chỉ tiêu thi đua. Mỗi ngày mỗi tuần mỗi tháng… các ban kiểm tra “liên cụm” dân cư đều rà soát đánh giá xếp loại rất nghiêm túc. Sẽ không quá lời khi nói rằng chỉ riêng “ngoại hình” các làng khóm trên các đảo mà tôi đã từng được làm khách giám chắc về sự quy củ chỉn chu và sạch đẹp… hơn đứt  phần nhiều các làng quê trong bờ.

Tuy nhiên đó mới chỉ là hình thức qua thiết chế hạ tầng trên các đảo. Về nội dung tương tự như những làng khóm trong bờ đều có quy ước xây dựng làng khóm Văn Hóa với những tiêu chí mục tiêu cụ thể. Quy ước xây dựng làng Văn Hóa ở đảo là quy chế cũng là “hương ước” về tổ chức xây dựng làng đảo được  định  thành 5 điểm cụ thể trong các chỉ thị của các bộ ngành và chính phủ nước Cộng Hòa xã hội chủ nghĩ Việt Nam.

Điều đặc biệt ngoài những “điều” quy định chung trong “hương ước làng đảo” về ý chí chiến đấu về đoàn kết kỷ luật rèn luyện sức khỏe… phù hợp với tính chất nhiệm vụ bảo vệ đảo…  còn có những quy ước rất cụ thể tác động không nhỏ đến  phẩm chất nhân cách những người giữ đảo như:  Không  nói tục không chửi thề không uống bia rượu say không đánh bài đánh cờ ăn tiền …  Và dù là những quy ước thuần về sinh hoạt như vậy nhưng vẫn được coi trọng và luôn được kiểm tra đánh giá rất khắt khe theo đúng chuẩn “làng khóm văn hóa”.

 Làng ! Là nơi tuyến đảo chắn sóng phía cực đông tổ quốc từng đã hằn sâu ấn tượng đẹp và kiêu hùng của những người lính trẻ ngày đêm chắc tay súng sẵn sàng chiến đấu bảo vệ từng tấc biển đảo  thiêng liêng của tổ quốc. Tuy nhiên ít ai biết rằng bên cạnh cuộc sống sôi động không khí sẵn sàng chiến đấu ở mức cao nhất “nóng nhất” của những người lính đảo còn có một cuộc sống thường nhật rất ư bình dị với những hoa lá chim bướm và và những con vật nuôi dưa từ dát liền ra làm bạn với những ngưòi lính lúc xa bến xa bờ.

            Làng! Là bắt đầu từ hình ảnh một  chiến sĩ hải quân đang đứng gác tại đảo Sinh Tồn Đông. Phía trên là một cánh chim bồ câu chấp chới bay về phía tổ nơi hai con chim bồ câu đang đứng gù nghe rất thanh bình như  khát vọng hòa bình của những người lính  Trường Sa

Làng! ấy là tiếng meo meo của các anh chị …mão sẽ góp phần cũng bộ “tam cầm lục súc” dậu tuất hợi…làm ấm thêm không gian những gia đình Việt giữa làng đảo Việt quê nhà.  Đất lành nuôi cây nên trái ngọt. Những con vật nuôi trên đảo cũng như nhiễm khát vọng sống hòa bình của những công dân đảo   nên  cũng đã sống hòa bình thân thiện với nhau. Vậy nên những chú Mão chị Tuất được đưa  từ lũy tre làng Việt  ra với làng đảo Việt… ở Trường Sa đều sống thểu thảo thân thiện hòa bình với nhau làm  làm ấm thêm không gian làng đảo Việt. 

Làng! đã qua mấy mùa tết với các công dân làng đảo. Dẫu bây giờ khi  gõ từng câu chữ nối lại cái mạch cảm của mình Trong cái thanh âm đặc trưng Làng quê Việt Nam nhận được từ những ngôi Làng đảo Việt ở Trường Sa   trong tôi vẫn chưa hết cái cảm giác được lẫn vào trong hồn cốt của những ngôi làng đảo để rồi khi kết thúc bài viết khó dứt này vẫn dội lên trong tôi tiếng vọng từ ngàn khơi rằng:

Đảo xa vẫn một tiếng Làng!

 

                                                                        Trường Sa những ngày đầu  giêng Đinh Hợi 2007

                                                                         Nha Trang những ngày đầu giêng Tân Mão  2011

alt

Đường Thanh niên trên đảo Sơn Ca

alt

Đàn bò Xinh trên đảo Song Tử Tây

More...