Quán thơ ở cuối dòng sông: Cảnh khuya

By Sinh ở cuối dòng sông

CẢNH KHUYA

Tiếng suối trong như tiếng hát xa

Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa

Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ

Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà.

                             Hồ Chí Minh

Lời bình:

Trong bài Cách mạng trăng và thơ in Văn nghệ quân đội số 724 tháng 5-2011 Hoàng Quảng Uyên viết: Theo hồi ký của các đồng chí sống gần Bác ở Khau Tý (Tuyên Quang-NHQ) thì Bác viết bài “Cảnh khuya” vào cuối thu năm 1947. Lúc này cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta đã bước qua năm thứ 2 và có nhiều thử thách gian nguy mới.

Giữa chiến khu Việt Bắc trong bộn bề công việc Bác vẫn có những phút giây lắng lại với thơ và đã để lại cho đất nước những thi phẩm giàu chất trữ tình và lòng yêu nước mà Cảnh khuya là một ví dụ.

Bài thơ tứ tuyệt chỉ bằng mấy nét chấm phá thôi mà bao nhiêu điều lớn lao được gợi mở: này là thiên nhiên này là con người này là tâm là trí là tình của lãnh tụ - nhà thơ…Một sự hài hòa giao thoa tuyệt vời giữa cảnh với người giữa chủ thể với khách thể giữa thi-họa-nhạc để tạo nên một tác phẩm thơ hay.

Tiếng suối trong như tiếng hát xa.

Khởi đầu là một sự nghe. Nghe tiếng suối rừng chảy trong đêm khuya khoắt. Đêm rừng tĩnh mịch sâu lắng nên tiếng suối vọng vào càng rõ càng trong càng hay. Nhà thơ Hồ Chí Minh nghe tiếng suối khuya bằng tâm hồn nên mới lắng hết tiếng hát xa của dòng nước trong nguồn chảy ra. Tiếng hát xa ấy là giai điệu trong trẻo của núi rừng của đất nước và sao ta không nghĩ đó là tiếng mẹ hát ru thời ấu thơ nhỉ. Từ xa biểu thị khoảng cách không gian nhưng trong hoàn cảnh nào đó thì nó cũng có thể là thời gian đã qua. Công cha như núi Thái Sơn/ Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra (Ca dao). Tuổi thơ đã xa nhưng những kỷ niệm về mẹ vẫn còn vẹn nguyên da diết hiện lên cùng tiếng suối đầu nguồn. Âm a trong từ xa mở ra sự mênh mang và lan tỏa. Thanh điệu cũng ngân nga như dòng nhạc tuôn ra nhịp nhàng man mác. Tiếng (trắc) suối (trắc) trong (bằng) như (bằng) tiếng (trắc) hát (trắc) xa (bằng): trắc/ trắc/ bằng/ bằng/ trắc/ trắc/ bằng. Lòng người thanh cao sáng ngời không hề vẩn đục mới nghe được tiếng suối trong như tiếng hát xa như thế. Tiếng suối trong như tiếng hát xa ấy là “điệu tâm hồn” thiết tha của nhà thơ Hồ Chí Minh là bản nhạc ngân lên từ trái tim Người.

Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa

Trăng cây hoa. Những đối tượng miêu tả quen thuộc trong thơ cổ. Có thể là cảnh thực có thể là ước lệ. Trong Cảnh khuya thì đó là thực nhưng cái thực đã được ảo hóa và mang nét riêng gần gũi. Hầu như không có sự ngăn cách xa biệt nào giữa người với cảnh. Trong cảnh có tình người sâu sắc thương mến lắm. Thế mới có sự chan hòa đồng điệu giữa trăngcổ thụ bónghoa. Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa. Từ lồng đắc địa vô cùng. Xưa - nay cũ - mới thực - ảo lồng vào nhau; trời đất - cây cỏ - con người lồng vào nhau trong sự thân thiện ấp iu chia sẻ đồng cảm. Toát lên cái vị thế của chủ thể từ sự thấu hiểu được mối quan hệ Thiên - Địa - Nhân khi vận dụng suy xét vào cái Thời - Lợi- Hòa của cuộc kháng chiến chính nghĩa của dân tộc ta. Tuy nhiên đây không phải là kiểu thơ tức cảnh sinh tình bởi lòng yêu nước thương dân đã có sẵn trong Bác. Cảnh khuya chỉ là cái nền để Người thổ lộ tấm lòng của mình đối với Tổ quốc với đồng bào yêu dấu mà thôi.

Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ

Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà.

Hai câu thơ cuối cho ta thấy rõ hơn sâu hơn cái Tâm ngời sáng của lãnh tụ. Bác đã có bao đêm không ngủ vì thương nước thương dân. Trong nhà tù Tưởng Giới Thạch Bác đã từng Một canh hai canh lại ba canh/ Trằn trọc băn khoăn giấc chẳng thành/ Canh bốn canh năm vừa chợp mắt/ Sao vàng năm cánh mộng hồn quanh. Hình ảnh đất nước dân tộc nhân dân luôn ở trong trái tim Hồ Chí Minh. Lo cho dân tộc được hòa bình độc lập tự do lo cho mỗi người dân ai cũng có cơm ăn áo mặc ai cũng được học hành là nỗi lo lớn nhất canh cánh trong lòng Bác. Cảnh khuya hiện ra mồn một như sự thao thức của lãnh tụ là bức tranh vẽ tâm trạng của Người. Cuộc kháng chiến kiến quốc của dân tộc đang ở trong giai đoạn cam go. Hai câu thơ cuối là sự trở lại với thực tại cuộc sống. Nỗi nước nhà vẫn là mối lo toan lớn nhất của Người không chỉ một đêm không chỉ một ngày mà suốt cả cuộc đời Hồ Chí Minh. Câu thơ cuối cùng không phải là sự lý giải mà đó là tấm lòng của Bác một Con Người viết hoa như Tố Hữu đã ca ngợi: Bác sống như trời đất của ta/ Yêu từng ngọn lúa mỗi nhành hoa/ Tự do cho mỗi đời nô lệ/ Sữa để em thơ lụa tặng già…

                                                                                                                                          Nguyễn Hữu Quý

alt

Thắp hương tại Nhà Bác Hồ ở Thái Lan

Ảnh NHQ

 

More...

Quán thơ ở cuối dòng sông: Mẹ và quả

By Sinh ở cuối dòng sông

 MẸ VÀ QUẢ

 

Những mùa quả mẹ tôi hái được

Mẹ vẫn trông vào tay mẹ vun trồng

Những mùa quả lặn rồi lại mọc

Như mặt trời khi như mặt trăng

 

Lũ chúng tôi từ tay mẹ lớn lên

Còn những bí và bầu thì lớn xuống

Chúng mang dáng giọt mồ hôi mặn

Rỏ xuống lòng thầm lặng mẹ tôi

 

Và chúng tôi một thứ quả trên đời

Bảy mươi tuổi mẹ mong chờ được hái

Tôi hoảng sợ ngày bàn tay mẹ mỏi

Mình vẫn còn một thứ quả non xanh.

                                                     Nguyễn Khoa Điềm

Lời bình:

Từ trước đến nay có không ít bài thơ viết về mẹ thật cảm động. Đây là đề tài quen thuộc với người làm thơ trong nước và cả thế giới. Viết về mẹ có cái dễ và cũng có cái khó. Dễ bởi vì nhìn tổng thể ít có tình cảm nào dào dạt sâu nặng như tình mẹ con. Cảm xúc sự khởi đầu cũng là yếu tố quan trọng bậc nhất trong hành trình sáng tạo thi ca khi viết về người sinh ra mình thường có sẵn trong tâm hồn nhà thơ. Khó là nếu không tìm được tứ mới thi ảnh độc đáo thì rất dễ bị lặp lại người khác. Nguyễn Khoa Điềm đã tìm được cái tứ rất hay và có những hình ảnh ấn tượng trong bài thơ "Mẹ và quả".  

Trước hết chúng ta xét đến mối liên hệ giữa con – mẹ - quả trong bài thơ. Trong đó mẹ giữ vị trí trung tâm. Mẹ với đức tính tần tảo cần cù khiêm nhường nhân hậu đã sinh ra con và làm ra những mùa quả. Trong sự so sánh của Nguyễn Khoa Điềm thì con cũng là một thứ quả của mẹ (đây cũng là cái tứ của bài thơ). Giữa thứ quả mẹ sinh ra và quả mẹ trồng được có những sự giống và khác nhau. Làm rõ sự giống khác nhau đó tác giả giải bày tình cảm tâm trạng của mình đối với mẹ.

Theo thời gian mưa nắng cuộc đời mẹ gắn bó với vườn tược ruộng đồng để làm ra những mùa màng ấm áp:

Những mùa quả lặn rồi lại mọc

Như mặt trời khi như mặt trăng.

Sự ví von có phần phóng đại nhằm nhân tầm kích sự vật lên. Những mùa quả của mẹ chính là sự sống ánh sáng của con cũng như mặt trời mặt trăng đối với trái đất này vậy. Không có mặt trời mặt trăng ngày và đêm trên trái đất sẽ tối tăm cũng như không có mẹ chúng con thiếu vầng sáng ấm áp và dịu mát của cuộc đời.

Tuy nhiên đằng sau sự ngợi ca cảm động đó là những băn khoăn có phần hối hận của mình về mẹ:

Những mùa quả mẹ tôi hái được

Mẹ vẫn trông vào tay mẹ vun trồng.

Những thành quả gặt hái được bây giờ là do công sức mẹ bỏ ra chúng con chưa làm được gì cho người cả. Ý thức ấy lại tiếp tục được khai triển trong mối liên hệ giữa con – mẹ - quả như đã nói ở trên:

Lũ chúng tôi từ tay mẹ lớn lên

Còn những bí và bầu thì lớn xuống

Chúng mang dáng giọt mồ hôi mặn

Rỏ xuống lòng thầm lặng mẹ tôi.

Hình ảnh quả bí quả bầu treo trên giàn được biểu đạt bằng sự lớn xuống (ngược chiều với con của mẹ lớn lên) và được ví như những giọt mồ hôi mặn thầm lặng rỏ xuống lòng mẹ. Trước sau mẹ vẫn thế âm thầm chịu thương chịu khó nuôi con không đòi hỏi một sự trả ơn báo đáp nào cả. Cũng tựa như cây trái của mẹ im lặng nuôi người không mong lời tụng ca. Mẹ chỉ mong chúng ta mau chín chắn khôn lớn trưởng thành để có ích cho đời. Điều mong mỏi ấy đâu chỉ có trong ngày một ngày hai mà đằng đẵng kéo dài từ tháng này qua tháng khác năm này qua năm khác. Khi già rồi thì niềm mong ấy của mẹ vẫn không hết. Bởi vậy con – một thứ quả trên đời mà mẹ mong chờ được hái - ai chẳng có tâm trạng:

Tôi hoảng sợ ngày bàn tay mẹ mỏi

Mình vẫn còn một thứ quả non xanh.

Từ cây quả liên tưởng so sánh đến con người Nguyễn Khoa Điềm cho ta một bài học thiết thực về lòng hiếu nghĩa với mẹ cha.

                                                                                                                                Nguyễn Hữu Quý

alt

 

 

More...

Thơ cuộc lo toan đổi mới

By Sinh ở cuối dòng sông

THƠ CUỘC LO TOAN ĐỔI MỚI

Nguyễn Hữu Quý

Thơ tồn tại như sự minh chứng cho sức sống của ngôn ngữ dân tộc. Một đất nước yêu thơ ca chứng tỏ quốc gia ấy có tâm hồn lành mạnh sâu sắc và tinh tế. Chưa có dân tộc nào chối bỏ hay hạ thấp các nhà thơ chân chính những người biết tôn vinh và chia sẻ với Tổ quốc mình bằng thi ca. Cũng không ai đánh giá ghi nhận xếp hạng nhà thơ chính xác công bằng và sòng phẳng như đông đảo quần chúng nhân dân. Họ đọc thơ bằng trái tim và sự chiêm nghiệm từng trải cuộc sống bằng những linh cảm bản năng bằng lòng yêu không gì có thể thay thế được với tiếng nói mẹ đẻ.

Với các thi sỹ chúng ta tôi nghĩ làm thơ trước hết là để đi vào thẳm sâu hay bay cao trong cõi ngôn ngữ Việt. Sau đó mới là giao lưu hội nhập với bè bạn bốn phương. Khó đạt tới sự thấu tỏ tuyệt đối về cảm xúc và ý tứ về những lung linh của con chữ về tiết tấu nhịp điệu mang dấu ấn văn hóa lịch sử phong tục thói quen bản địa khi đọc thơ không nguyên văn ngôn ngữ nguồn cội của thi sĩ. Thơ không chỉ có nghĩa mà chủ yếu phải là tình là hồn những khái niệm ai cũng biết nhưng lý giải một cách thấu triệt và sâu sắc là vô cùng khó. Trong thơ có hơi thở hồn vía của dân tộc mình đồng bào mình. Nó chính là cái thấm sâu nhất lâu nhất và đương nhiên chí phối nhiều hơn cả trong hành trình sáng tạo của người cầm bút . Các nhà thơ đích thực ít ai không khởi đầu và đề cao chất truyền thống trong sáng tác thi ca.

Bập vào những trào lưu trường phái ngoại lai một cách vội vã thiếu chọn lọc dường như làm cho người ta dễ quên điều đó. Hệ quả của sự tiếp nhận đó không mấy tích cực lắm và sự thành công của nó cho đến hôm nay theo nhìn nhận của tôi là rất ít ỏi. Quá chuộng hình thức trong khi nội dung không mang được những phát hiện mới về cuộc sống lạ xa với thế thái nhân tình lợt lạt cảm xúc và cuối cùng là sự trắng tay của người cầm bút. Mấy trường hợp khởi đầu ầm ĩ ồn ào được một đôi bác chú tung hê ca tụng nay đã lặn hun hút. Đâu là mới mẻ đâu là cách mạng đâu là thành công? Sự lăng xê tiếp thị không thay thế được tác phẩm. Khái niệm đổi mới thơ có lẽ đã bị hiểu nhầm khi người ta chủ trương viết thế nào chứ không phải viết cái gì. Thực ra viết cái gì cũng quan trọng như viết thế nào. Tư tưởng nội dung và hình thức nghệ thuật đều phải đạt 100% nếu tác phẩm ấy muốn đạt đến độ hay. Cả hai quyện chặt lấy nhau tuy hai mà một như giọt lệ bi lãng mang trong nó nỗi đau và khát vọng của con người. Chính vì thế mà nó có vị mặn. Thơ của thời đổi mới ít vị mặn dù nó có vẻ lúng la lúng liếng hơn. Điệu đàng quá điệu đàng không chịu nổi chẳng mang lại sức sống mới cho thơ những tuyên ngôn cao giọng hùng hồn cãi vã lại thành quả sáng tạo cụ thể èo uột của họ.  Hãy nhìn lại đi. Chưa có những tên tuổi đích thực làm cho chúng ta phải tâm phục khẩu phục.Tác giả bài này không dám chê bai ai cả chỉ viết đúng những gì mình cảm nhận được trong lòng yêu thi ca rất mực cùng khát vọng nền thơ Việt vươn xa bay cao.

Sự thật là thơ vẫn chùng chình trong cuộc tìm đường đổi mới bởi những gì mà “phái” tiên phong cách tân mang đến quả là yếu ớt mỏng manh và chưa tạo được “trường” hấp dẫn cuốn hút như nhiều người làm thơ đọc thơ mong mỏi. Phần lớn người ta cảm thấy thơ khó hiểu hơn tắc tị hơn ảm đảm hơn u ám hơn rối rắm hơn. Xác thơ nhiều hơn hồn thơ. Những “hộp” thơ ngổn ngang rối bời chữ. Sự cằn cỗi thi ca không tưới tắm cho xanh rợp cây đời.

Thơ đang thiếu hậu thuẫn từ phía người đọc bởi nhiều nguyên nhân nhưng theo tôi do hai điều cốt yếu là: ít thơ hay và tính nhập thế của thơ vô cùng thấp.

Với tôi:

Thơ hay như lửa nó mang sứ mệnh cháy trong lòng.

Thơ hay như nước nó có phận sự chảy từ ít đến nhiều.

Thơ hay như hạt nó có trách nhiệm ấp ủ và nảy nở.

Thơ hay như mắt nó biết mở ra những tâm hồn.

Thơ hay như mùa nó biết tôn trọng những luân khúc để còn lưu giữ bản sắc của quá khứ. 

Thơ hay như người tình thấu tỏ nhau từng chân tơ kẻ tóc cho nhau cả dịu êm và rên xiết mưa bụi và cuồng phong.

Thơ hay như thơ biết chiếm lĩnh phần hồn của thiên hạ bằng sự cao cả của tâm hồn và minh triết của trí tuệ.

Thơ hay không gì khác là sự gặp gỡ thiên định của thăng hoa cảm xúc với lóe sáng của trí tuệ.

Thơ hay là thơ có sức sống lâu dài. Thơ hay là thơ neo bám được vào trái tim và khối óc con người. Không phải thơ dễ thuộc dễ hiểu đâu. Thơ Nguyễn Trãi vẫn còn mê hoặc ta trong những bí ẩn huyền diệu của thi ca chưa thể giải mã hết: Tự bén hơi xuân tốt lại thêm./Đầy buồng lạ mùi thâu đêm./Tình thư một bức phong còn kín/Gió nơi đâu gượng mở xem (Cây chuối). Ẩn dụ hay là siêu ẩn dụ đây? Thơ ở đẳng cấp cao không lộ ra không nói hết mọi điều. Nếu nói về miêu tả thì chắc không nhiều người  tả cây chuối đẹp và lạ như thế. Bàn tới sự đa nghĩa thì chắc Cây chuối không thua kém thi phẩm nào. Trong tôi hiện lên một Ức Trai đa cảm đa tình lắm. Tự bén hơi xuân tốt lại thêm. Mối liên hệ giữa Mùa (xuân) – Cây (chuối) là mối liên hệ của tình yêu; đối chiếu vào con người ta thấy mạch yêu ấy không ngừng tuôn chảy. Cây bén hơi xuân người bén hơi người cả hai đều tươi tốt thêm. Đầy buồng lạ mùi thâu đêm. Tình yêu đã đến độ kết trái tỏa hương nhưng hình như vẫn còn có điều gì đó nữa nên mới Tình thư một bức phong còn kín. Những nỗi niềm những ẩn khúc những mong ước chưa giải bày thổ lộ? Những xao xác tơ non còn rưng rưng giấu kín trong lòng?  Gió nơi đâu gượng mở xem. Theo tôi đây là một mời gọi khám phá rất tinh tế và cũng rất hiện đại có từ thế kỷ 15. Truyện Kiều của Nguyễn Du có thể dễ thuộc nhưng không phải là dễ hiểu và hình như rất ít ai nói đó không phải là tuyệt tác. Thơ Hồ Xuân Hương cũng thế bình giảng thấu đáo là vô cùng khó. Ngay ca dao cũng vậy không phải câu nào cũng nôm na đơn lược. Xin được nghiêng mình bái phục: Ước gì sông hẹp tày gang/ Bắc cầu dải yếm mời chàng sang chơi. Chiếc cầu dải yếm không hiện đại à? Hay: Hỡi cô tát nước bên đàng/ Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi. Ánh trăng cô gái thôn nữ “múc” đổ đi ấy lấp lánh muôn đời đấy chứ.

Hồn vía Việt giọng điệu Việt…đậm đà trong Nguyễn Trãi Nguyễn Du Hồ Xuân Hương… và sau này đến những Huy Cận Chế Lan Viên Xuân Diệu Hàn Mặc Tử…cũng thế. Thơ mới 1930 – 1945 không ít bâng khuâng Đường thi và lục bát dân ca. Thơ muôn năm là dòng chảy liên tục không bị đứt gảy cũng như tinh thần và tâm hồn sâu kín của dân tộc được truyền lưu từ thế hệ này qua thế hệ khác. Nên hiểu thơ trước hết là thân phận con người chứ không phải là nghề nghiệp mưu sinh. Thơ là hồn là linh là phần âm của con người trần thế. Thơ là dân tộc là xứ sở trước khi là nhân loại là thế giới. Tôi thường tâm niệm thế.

Mạo muội nghĩ rằng đúc kết của cổ nhân (Hiệu Nhiên – Trung Quốc) vẫn nguyên giá trị tham khảo với người làm thơ: Thơ có 6 chỗ cần đạt đến (Thi hữu lục chí). Đó là: Hiểm nhưng không hóc tắc; Kỳ nhưng không quái; Đẹp mà tự nhiên; Lao tâm khổ tứ nhưng không để lại dấu vết ; Lời gần mà ý xa; Phóng khoáng nhưng không vu vơ.

Không thể tùy tiện ghép các ngôn từ lại là thành thơ. Thơ mang trong nó những câu chuyện của cuộc đời buồn vui thế sự tư tưởng tình cảm. Thơ khác văn xuôi và càng khác câu nói bình thường bởi nó có thi tứ có thi ảnh tiết tấu nhịp điệu…nói tóm lại nó phải có lề luật quy tắc thơ. Câu dài câu ngắn. Có vần không vần. Êm xuôi trúc trắc. Nhanh chậm. Đậm nhạt. Nặng nhẹ. Duy tình duy lý. Cũ mới. Trước hết cũng đều phải tạo ra được ấn tượng thẩm mỹ. Phải tuân thủ quy luật thơ đó là quy luật của cảm xúc như Xuân Diệu từng nói.

Lo toan cho thơ mới mẻ thời nào cũng có. Làm thơ là sáng tạo là công việc của kẻ không lặp lại mình không bắt chước người. Người làm thơ ít người dửng dưng với đổi mới cách tân. Nhưng đổi mới thế nào cách tân ra sao mới là điều đáng nói. Mở miệng rên la hay gào thét cũng có thể là thơ nhưng cũng có thể không là gì cả. Chàng kỵ mã thi ca có thể tạo ra được những đường phi ngoạn mục nhưng cũng có thể ngã ngựa từ bước vó đầu tiên vì không biết cầm cương. Không phải những clip ngôn ngữ tình tang được tung lên mạng mới được gọi là thơ đổi mới. Đưa chất tục tính dục vào thơ cũng không gì mới cả. Điều đáng nói là cái tục cái dục đó được thể hiện như thế nào thôi. Cũng đừng mong chửi bới vung vít hay ném những “vật kín” những “vật thải” ấy vào thơ để trở thành tân kỳ hiện đại. Thơ nằm ngoài sự hời hợt và thực dụng cũng không phải là trang sức của con người.

Thơ xứng đáng được tôn vinh là linh hồn cuộc sống. Đổi mới thơ là làm cho thơ cần thiết với cuộc sống hơn. Nó nhập vào nhịp sống đời thường tự nhiên và thân thiết. Phát hiện những bí ẩn của cuộc sống và diễn đạt nó bằng cảm xúc tràn trề bằng sự thấu hiểu xa rộng bằng những cấu tứ độc đáo bằng những sáng tạo ngôn ngữ đó là đổi mới. Hành trình đổi mới cũng là hành trình bám riết dân tộc bám rễ cuộc sống nhận ra trong sự xung đột xã hội những giá trị nhân văn tươi mới. Là hướng tới sự giản dị giản dị giản dị để truyền cảm được xúc động xúc động xúc động cao nhất. Điều ấy thực ra bao thế hệ nhà thơ trong nước ngoài nước đã làm mà R.Tagore (Ấn Độ) là một dẫn chứng vô cùng thuyết phục: Thơ tôi đã rũ sạch mọi điểm trang lòe loẹt không còn kiểu cách huyênh hoang. Vật trang sức sẽ làm hại tình thân giữa đôi ta sẽ ngăn cách Người với tôi và khi va chạm thành tiếng xủng xẻng sẽ át cả tiếng người thì thầm…hay: cuộc tập dượt phức tạp nhất chính là cuộc tập dượt đưa tới vẻ giản đơn tột cùng của một hòa âm.

Có lẽ nhờ thế mà thơ R. Tagore sống mãi mới mãi không chỉ với nhân dân Ấn Độ mà với cả nhân loại chúng ta.

                               Đồng Xa giữa xuân Tân Mão 2011

alt

More...

Quán thơ ở cuối dòng sông: Chờ

By Sinh ở cuối dòng sông

CHỜ

Sương rơi trắng bạc đầu non

Bao nhiêu sông cái đổ dồn về khơi

Ru con tròn giấc mẹ ngồi

Con lên mười tám mẹ rời chiêm bao

                                           Ngô Kha

Lời bình của Nguyễn Hữu Quý:

Bài thơ chỉ có 4 câu. Mỗi câu mang một hình ảnh sắc thái mục đích diễn đạt khác nhau nhưng đều hướng tới cái chung là nói về tình cảm mẹ con.

Ở hai câu đầu tác giả phác họa ra một không gian rộng lớn với hình ảnh núi và sông. Núi thì: "Sương rơi trắng bạc đầu non". Ta có một hình dung: muôn vàn giọt sương rơi trắng bạc đầu núi. Chắc là sương rơi dày lắm nên mới trắng bạc đầu non.Ta có cảm nhận: những giọt sương núi đã gieo vào lòng mình cái bàng bạc xa xăm của không gian cái chơi vơi thăm thẳm của thời gian và chỉ ngần ấy ngần ấy thôi cũng đã nhắc gợi tới sự dầu dãi của đời người. Sông thì: "Bao nhiêu sông cái đổ dồn về khơi". Không phải một sông đâu mọi dòng sông lớn đều đổ dồn về biển cả. Nhà thơ không dùng từ "lớn" mà là "cái". "Sông cái" vừa diễn tả độ rộng lớn vừa nói được về mẹ. Sông Hồng còn có tên gọi khác là sông Mẹ đó. Ở miền Nam nhiều dòng sông cũng có tên bắt đầu là Cái như sông Cái lớn…Lấy sông cái để ngầm ví với tình yêu bao la của mẹ dành cho con. Như mọi dòng sông lớn  đều đổ dồn nước về biển khơi tất cả tình yêu khát khao của mẹ đều dành cho con. Tình mẫu tử chỉ có thể ví với núi sông không thể nào khác được.

Hai câu cuối nói về mẹ cụ thể và gần gũi lắm nhưng hàm chứa những ý tưởng rộng lớn và sâu sắc. "Ru con tròn giấc mẹ ngồi". Nếu không có từ "tròn giấc" thì hình ảnh mẹ ngồi ru con chỉ mới diễn tả được cái từ thế hành vi của người thôi. "Tròn giấc" trước hết biểu hiện giấc ngủ của trẻ thơ nhưng đằng sau đó là ước mong của mẹ. Mẹ muốn sự yên bình an lành trọn vẹn cho con bây giờ và mai sau. Mẹ mong cho con mạnh khỏe khôn lớn để bước vào đời chững chạc. Mẹ ước cho đời con lành đến dữ đi muốn cho con vuông tròn trong cuộc đời vốn vẫn thường nhiều chông gai trắc trở. Bao nhiêu nhọc nhằn truân chuyên mẹ nhẫn nại gánh gùi vượt qua cũng chỉ để cho con có cuộc sống tốt đẹp hơn.

Giấc chiêm bao của mẹ khi ngồi canh giấc ngủ cho con là thế. Nó nồng ấm biết bao. Bây giờ con mới chỉ là đứa trẻ nằm nôi phải mười tám năm sau nữa con mới trưởng thành. Khoảng thời gian ấy dằng dặc nỗi chờ của mẹ. Trong khoảng thời gian đó biết bao lần "chỗ ướt mẹ nằm bên ráo con lăn" (Ca dao)…Mẹ chờ mong con đến tuổi người lớn tuổi công dân chững chạc bước vào đời: "Con lên mười tám mẹ rời chiêm bao."

alt

Ảnh st trên NET

                                               

More...

Sự cảnh báo ảm đảm và nóng bỏng

By Sinh ở cuối dòng sông

alt

SỰ CẢNH BÁO ẢM ĐẠM VÀ NÓNG BỎNG

Nguyễn Hữu Quý

Tiểu thuyết đầu tay của nhà lý luận phê bình Đỗ Ngọc Yên mang tên Mạt vận*. Nó là kết quả của sự câu thúc bởi những điều trông thấy mà đau đớn lòng hay mạo hiểm của người cầm bút? Có lẽ cả hai. Cuốn tiểu thuyết luận đề viết theo kiểu hiện thực huyền ảo ít nhiều phảng phất thuyết nhân quả này là hồi chuông cảnh báo ảm đạm và nóng bỏng về thực trạng xuống cấp của đạo đức xã hội Việt Nam hôm nay.

Thời vận gắn với thịnh suy của một quốc gia một dòng họ một gia đình một con người. Quan niệm ấy có từ ngàn xưa. Không còn gì ảm đạm bi ai tăm tối hơn khi một quốc gia một dòng họ một gia đình một con người đã đến hồi mạt vận. Trong tiểu thuyết Đỗ Ngọc Yên kể về sự suy thoái băng hoại xuống dốc của dòng họ Trần vốn danh giá một vùng. Họ Trần ấy đã tới hồi mạt vận và theo như câu chuyện được kể trong tiểu thuyết thì nguyên do của nó chính là sự coi thường tổ tiên ông bà tham lam tiền của ăn chơi bừa bãi trọng nam khinh nữ loạn luân…của con cháu. Gieo gì gặt nấy. Như luật nhân quả đời cha ăn mặn đời con khát nước mẹ hư con hỏng. Con đường tham nhũng hối lộ hằn vệt từ bố sang con trai lối sống đua đòi ăn diện dẫn tới bán rẻ nhân phẩm kéo dài từ mẹ đến con gái…tất thảy quay cuồng nhào trộn trong một xã hội đề cao đồng tiền lối sống thực dụng đã dẫn tới sự suy vong của dòng họ gia đình. Sự cảnh báo ấy thật ảm đạm nhưng cũng nóng bỏng và róng riết xiết bao nếu không kịp chỉnh đốn sửa chữa để phục thiện để gạn đục khơi trong thì nguy hại muôn vàn.

Thời đoạn mạt vận của dòng họ Trần là điểm tập kết của những hành trình suy thoái đạo đức nhân cách của một số thành viên trong đó. Bắt đầu từ ông Hoằng vị thứ trưởng tham nhũng bị dính vô vòng lao lý mà theo lời kết tội của hồn ma cụ tổ chín đời họ Trần là: Mê mải theo đường quan lộ mà quên hết dòng tộc đạo lý làm người. Giàu lên nhờ những đồng tiền tham nhũng vị thứ trưởng này định tạ ơn tổ tiên bằng việc phá từ đường cũ để xây lại từ đường mới khang trang đẹp đẽ. Khi làm công chuyện hệ trọng đó ông ta không thèm mời thầy xem phong thủy ngày giờ không chọn thợ và đúng lúc động thổ đào móng thì vợ ngã lăn ra chết nhưng vị thứ trưởng vẫn không cho dừng lại mà vẫn tiếp tục. Chuyện trần gian và chuyện tâm linh được trộn lẫn ở đây không nhằm cổ súy mê tín dị đoan mà chỉ là những mách bảo nhắc nhở về đạo lý làm người.

Thế hệ tiếp theo con trai ông Hoằng là Trần Thành tổng giám đốc một công ty xây dựng có hàng ngàn nhân công có hàng nghìn tỉ đồng tiền vốn. Thành có người vợ hiền lành cam chịu là Thu Hiền và hai cô con gái xinh đẹp là Thành Hà Thanh Hằng. Giá như Trần Thành là một cán bộ liêm khiết và biết dừng lại đúng lúc đúng chỗ không xem chuyện phải có một đứa con trai cho cái dòng họ Trần khỏi bị xóa sổ ở vùng này mới là chuyện hệ trọng bậc nhất cần phải quan tâm và đã đi tìm một cô gái đẻ thuê cho mình một quý tử thì mọi chuyện chắc sẽ khác. Những rối ren bi kịch gia đình dòng họ chắc không thể xảy ra sau đó. Không có việc anh quyết định thuê một cô em gái họ cận huyết thống để sinh ra một đứa bé trai có cái mặt ngoảnh về phía sau quay lưng lại với đời; chỉ sống được gần một năm rưỡi trên đời thì vừa bú xong tự nhiên giật đùng đùng co dúm người lại khóc ré lên rồi tắt thở. Chẳng có chuyện đứa con gái đầu của anh nữ sinh Thanh Hà rủ bè bạn tìm đến Mỹ Đình đánh tơi tả tình nhân – hay đúng hơn là người đẻ thuê cho bố sau đó trốn qua Trung Quốc và bị biến thành gái mại dâm rồi trở thành vợ lẽ của lão già người dân tộc Choang tên là Lý Lam. Cái giá phải trả của Trần Thành ngoài những quả đắng ấy còn bị thư ký riêng tống đơn kiện và bị bắt giữ để điều tra về việc có dấu hiệu tham nhũng chiếm dụng tiền và tài sản khu dự án đô thị mới và tội hối lộ. Cuối cùng anh đã bị bắt giữ để điều tra.

Thực ra thì câu chuyện mạt vận suy vi của dòng họ Trần được dựng lên trong tiểu thuyết lại bắt đầu từ nhân vật chính Thảo Phương nữ sinh Trường trung cấp Thương mại – Du lịch. Đó là cô gái sinh ra ở vùng rừng Ngày đầu tựu trường làm thủ tục nhập học…ngơ ngác như một con dê con vừa từ trên núi xuống…Học hết năm thứ nhất mà Thảo Phương vẫn còn ngơ ngác lắm nhưng  nếu có ai mặc bộ quần áo đẹp là cô nhận ra ngay và xấn đến làm quen. Uất ức vì câu nói khinh bỉ của một đồng môn có mẹ bán hàng tạp hóa ở chợ Đồng Xuân Rõ là một lũ nhà quê mà Thảo Phương quyết chí trả thù đời. Có lẽ sự tha hóa về đạo đức nhân phẩm của cô gái này bắt đầu từ suy nghĩ: Học hành bằng cấp làm cái quái gì. Nhiều chữ ở trong đầu ai biết. Cứ ăn mặc những bộ đồ đẹp và đắt tiền là có giá ngày. Với quan niệm đó Thảo Phương bỏ bê học hành tự biến mình thành một loại điếm cao cấp mắc từ sai lầm này đến sai lầm khác mà đỉnh điểm của quá trình băng hoại nhân phẩm là chấp nhận đẻ thuê cho Trần Thành và sau một cuộc ăn uống say sưa trở về phòng trọ đã tự thỏa mãn dục tính bằng cái ấy của em trai mình. Cô gái này chưa trả thù được ai đã bị đời cho bao quả đắng bị đánh ghen bỏ học sống chui lủi sinh con dị tật chết sớm và cuối cùng trở thành một kẻ tâm thần thân tàn ma dại. Bi đát hơn người nhờ cô đẻ thuê Trần Thành chính là anh họ ba đời của cô. Nói thêm thế hệ trước Thảo Phương mẹ cô cũng đã từng mang cái đáng giá ngàn vàng đi bán cho lão cán bộ cung tiêu của hợp tác xã lấy hai yến thóc may cái áo phin nõn mỏng tang.

Ngôi từ đường mà nguyên thứ trưởng Trần Hoằng xây lên bằng đồng tiền tham nhũng cuối cùng cũng bị lửa thiêu cháy xạm đen. Cứ như là tiền định vậy ngọn lửa thiêu cháy từ đường lại khởi phát từ những bát hương. Thế là đã đủ cho ta hình dung về sự mạt vận của một dòng họ từng chói ngời danh giá. Tiền của không là tất cả không là trên hết. Mà để bảo tồn phát triển dòng họ gia đình cái chính là nhân đức sự tử tế của con người. Thông điệp ấy lại thêm lần nữa khẳng định trong tiểu thuyết của Đỗ Ngọc Yên.

Một không khí u ám ảm đảm bao trùm lên hơn bốn trăm trang tiểu thuyết với những xấu xa nhơ bẩn có thật trong xã hội Việt Nam đương đại. Một ít đốm sáng như Thu Hiền Miềng hầu như chưa đủ sức làm ấm áp tình người trong đó. Phải nói Đỗ Ngọc Yên đã khá vững tay trong dàn dựng cốt truyện nhân vật. Nhiều mối quan hệ đan xen nhau nhưng không bị rối trái lại mạch chuyện đã được khai triển khá hợp lý thoáng đạt tương đối hấp dẫn người đọc. Cảm giác như quá trình viết tiểu thuyết này Đỗ Ngọc Yên cố gắng tìm cách trả lời câu hỏi: Tại sao mạt vận? Sự từng trải nắm bắt hiện thực và những kiến thức xã hội của tác giả được thể hiện khá rõ trong tiểu thuyết. Tuy nhiên đây vừa là điểm mạnh cũng là điểm yếu của anh trong sách có nhiều trang qua các nhân vật tác giả say sưa thuyết trình về lịch sử văn hóa triết học.... Và ta có cảm giác đấy không phải là khẩu ngữ kiến thức của họ. Hình như có sự lệch pha giữa nhân vật và phát ngôn của họ. Chất huyền ảo như một lựa chọn để tác giả gửi gắm vào tiểu thuyết những chiêm nghiệm tâm linh nhưng theo tôi chưa thành công mấy vì nó còn lộ liễu thô tháp quá và đương nhiên chưa tạo ra được ma mị chập chờn mê dụ bạn đọc vào sương khói miên man. Vững vàng trong dựng chuyện nhưng lại chưa thiện nghệ trong xây đắp nhân vật nhất là phân tích nội tâm và ít có chi tiết làm ta ám ảnh. Đòi hỏi ở anh như thế thật cao nhất là với một cuốn tiểu thuyết đầu tay vì đâu dễ có được một Chí Phèo của Nam Cao Xuân tóc đỏ của Vũ Trọng Phụng Chị Dậu của Ngô Tất Tố Giang Minh Sài của Lê Lựu…

Nhưng Mạt vận dù sao cũng đã chứng tỏ sự cố gắng trong một bước ngoặt sáng tạo văn chương của Đỗ Ngọc Yên. Ít nhất thì đó cũng là một hồi chuông cảnh báo ảm đạm và nóng bỏng về sự xuống cấp của đạo đức xã hội. Và hình như anh còn muốn viết thêm một tiểu thuyết nữa về xã hội Việt Nam đương thời. Tôi hy vọng anh sẽ khá hơn…

                                                                                                                Đồng Xa cuối tháng 4 năm 2011

 

--------

* Mạt vận NXB Thời đại H.2011.

More...

Hình ảnh đối phương trong "Đối chiến"

By Sinh ở cuối dòng sông

HÌNH ẢNH ĐỐI PHƯƠNG TRONG “ĐỐI CHIẾN”

Nguyễn Hữu Quý

Những người lính dù quả cảm của Thiếu tá Thời lần lượt gục ngã. Có người chỉ còn cách chiến hào địch quân trong gang tấc. - Hỏng chuyện rồi! Chúng nó đã đoán được ý đồ của ta! Thiếu tá Huỳnh Xuân Thời vừa kịp nghĩ vậy thì trúng đạn ngã vật xuống như một thân cây bật gốc. Anh cũng chỉ còn cách chiến hào của Bắc quân trong gang tấc. Trái lựu đạn trên tay anh đã rút chốt nhưng chưa kịp thảy vô chiến hào quân địch khi bàn tay anh buông xuôi duỗi ra thì nó nổ tung khiến thi thể anh nảy bật lên thêm một lần nữa rồi rơi xuống nằm vắt ngang chiến hào đối phương. Cuối cùng anh cũng đã tới đích.

Đấy là một đoạn văn trích từ tiểu thuyết Đối chiến của nhà văn Khuất Quang Thụy. Những chiến binh được tác giả gọi là quả cảm ấy viên sĩ quan cấp tá được miêu tả như một người hùng ấy chính là đối phương của ta trong cuộc chiến tranh chống Mỹ. Đối chiến cuốn tiểu thuyết mới nhất và khá dày dặn (636 trang khổ 14 5x20 5) này do Nhà xuất bản Quân đội nhân dân in năm 2010 đã được viết nên từ những trải nghiệm và cảm hứng từ một sự kiện lịch sử có thật: chiến dịch Đường 9 – Nam Lào xuân 1971 của nhà văn Khuất Quang Thụy. Cuộc đối đầu máu lửa trên Đường 9 – Nam Lào đã trở thành dấu mốc cho một bước ngoặt quan trọng của chiến tranh Việt Nam. Mỹ muốn “Việt Nam hóa chiến tranh” và nói theo cách của báo chí thời ấy là “thay màu da trên các xác chết”. Đấy là màn mở đầu báo hiệu sự phá sản hoàn toàn của chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” sau 4 năm nữa khi Quân đội và nhân dân ta hoàn thành nhiệm vụ “Đánh cho Mỹ cút đánh cho ngụy nhào”…(Thơ chúc Tết năm 1969 của Chủ tịch Hồ Chí Minh).

Cuộc đọ sức giữa lực lượng hai phía được tái hiện lại bằng ngôn ngữ và bút pháp tiểu thuyết trên cái nền lịch sử đã có nói chính xác hơn là trên cái “hiện thực đã đi qua” đủ một khoảng thời gian để người cầm bút tỉnh táo nhìn nhận suy ngẫm sự kiện sự việc sâu sắc hơn và cũng công bằng sòng phẳng hơn về ta và đối phương. Theo tôi thì cảm hứng thôi thúc Khuất Quang Thụy viết Đối chiến không phải để mô tả lại chiến dịch Đường 9 – Nam Lào nhằm tô đậm thêm chủ nghĩa anh hùng cách mạng theo âm hưởng sử thi quen thuộc như bấy nay mà chủ yếu là nói về con người trong chiến tranh. Con người là “mẫu số chung” của các nhân vật trong tiểu thuyết này. Những con người Việt Nam bên này hay bên kia đều bị cơn bão chiến tranh cuốn vào quăng quật và nhào trộn trong sức mạnh phũ phàng dữ dội của đạn bom máu lửa hận thù của sự  nghiệt ngã “một mất một còn” giữa hai lực lượng không cùng chung lý tưởng. Họ có chung một Đất nước một Quốc Tổ Hùng Vương cùng là con Rồng cháu Tiên cả. Họ đều mang dòng máu anh hùng của Lý Thường Kiệt Trần Quốc Tuấn Lê Lợi Quang Trung…nhưng bi ai thay những người lính ấy lại cầm súng chiến đấu cho hai lý tưởng đối lập  phụng sự cho hai chế độ khác nhau và đương nhiên cũng được dạy dỗ giáo huấn đào luyện theo hai cách không đồng dạng. Trên chiến trường họ là đối thủ là kẻ thù đâm chém bắn giết nhau nhưng trong Tổ quốc họ là dân Việt trong nhân loại họ là con người. Con người kẻ thù con người đối phương hiện lên như thế nào trong Đối chiến đấy chính là sự quan tâm nhất của tôi khi đọc tiểu thuyết này.

Có vẻ như Khuất Quang Thụy đã xác định rõ thái độ khi gõ vào bàn phím. Công bằng. Sòng phẳng. Với cả hai bên. Thời ấu trĩ viết là phải: ta mạnh địch yếu ta tốt địch xấu ta hay địch dở ta thắng địch thua đã lui xa xa rồi. Người ta đã nhận ra tính phi nghệ thuật của lối viết văn minh họa cho đường lối phục vụ cho tuyên truyền. Tính lịch sử tính khoa học là những điều kiện cần của người cầm bút bây giờ. Có như vậy hiện thực được phản ảnh trong tác phẩm mới sinh động và chân thật tiếp cận gần hơn đúng hơn cao hơn cuộc sống vốn rất phong phú đa dạng phức tạp và mọi thiên vị thiên kiến cực đoan không phải là mong đợi của người đọc. Chúng ta mong đọc những tác phẩm viết về lịch sử và chiến tranh đúng với tiến trình và bộ mặt thật của nó nhân vật mang trong đó những phấn khích cuồng nộ hay dằn vặt ai oán của thời đại những cung bậc tình cảm và ước vọng rất con người của một thời để soi rọi tự vấn muôn đời. Kẻ thù quân địch chỉ là cách gọi theo nghĩa chính trị trong con mắt quan sát của nhà văn thì đó chỉ là con người. Con người đó là nhân vật lớn nhất duy nhất bao trùm nhất mà nhà văn đi vào thám sát mổ xẻ trước khi đưa vào tác phẩm của mình.

Nhân vật đối phương mà Khuất Quang Thụy tốn công bồi đắp nhất dành nhiều tâm huyết nhất và cũng “yêu” nó nhất trong Đối chiến có lẽ là Huỳnh Xuân Thời. Xét về mặt gốc gác hoàn cảnh thì “anh” có nhiều nét giống các “đồng chí” của ta. Thời quê Bình Định thuộc vùng Tây Sơn Hạ nơi phát tích sự nghiệp lừng lẫy nhưng ngắn ngủi của Nhà Tây Sơn Nguyễn Huệ. Sinh ra và lớn lên trong một gia đình nhà nghèo con đông ba má Thời làm quần quật tối ngày mà không lo đủ cơm ăn áo mặc cho đàn con mới 15 tuổi anh đã phải bỏ học đi phụ việc cho chủ lò đường ngoài xóm Bàu Lô. Ông chủ lò là dân máu mê võ nghệ nên sau mỗi ngày làm việc dù mệt đứ đừ Thời cũng phải ở lại học võ với mấy đứa con ông chủ yếu làm quân xanh cho chúng nó đấm đá trong đó có  Út Nhỏ sau nay thành vợ của anh. Vợ sinh con một bề toàn là gái nên anh chàng Thời quê mùa này đã mừng rum khi được gọi đi quân dịch. Nhiều may mắn đã đến với Thời do nổi bật qua một kỳ thi đấu võ nghệ nhân dịp một ngày lễ lạt gì đó nên sau chín tuần huấn nhục tại quân trường anh được tuyển vô trường sĩ quan trù bị Thủ Đức. Cũng nhờ giỏi võ nghệ mà anh được chọn về một đơn vị lính dù và trong mùa xuân 1968 Thời đã chỉ huy trung đội hình thành mũi đột kích tiến vô đánh bật địch quân ra khỏi thành nội thượng lại quốc kỳ Việt Nam Cộng Hòa lên kỳ đài Phu Văn Lâu. Đó là thời khắc vẻ vang trong cuộc đời binh nghiệp Huỳnh Xuân Thời. Trong con mắt của phía bên kia anh là biểu tượng của tuổi trẻ cứu nước là hình ảnh tiêu biểu tinh thần kiêu dũng của lính dù thần tượng ngự trị trong trái tim những cô gái Huế.  Và điều gì đến sẽ phải đến Thu Cúc một nữ sinh mơ mộng của trường Đồng Khánh đã trở thành tình nhân và sau đó là vợ bé của chàng sĩ quan dù kiêu hùng này. Huỳnh Xuân Thời trung thành với chế độ chiến đấu gan góc và đã chết đúng tinh thần quả cảm của một người lính đúng danh dự của một sĩ quan. Trước khi liều mình xông vào của tử Thời đã gửi lại chiến hữu chiếc khăn chặn sữa của con trai (do Thu Cúc trao cho anh khi ra trận như một lá bùa hộ mệnh may mắn) nhờ đưa về cho vợ mình. Một chi tiết rất người mở ra những vầng sáng nhân bản ấm áp trong ta. Chớ vội lý giải hành động và cái chết của anh theo hướng nào chỉ cần chia sẻ điều này:  con người nào cũng phải đề cao trách nhiệm và phận sự mà xã hội đã giao phó và trong muôn vàn mối quan hệ khó có gì sánh bằng tình yêu gia đình. Đất nước thêm một góa phụ trẻ trung và những đứa con mồ côi bố. Cái chết của Thời và những chiến hữu của anh không lạ gì hết với chiến tranh tổn thất của bên này là thắng lợi của bên kia nhưng với những người vợ lính thì đó là nỗi đau thăm thẳm không gì lấp hết được.

Với tinh thần đó các nhân vật thuộc tuyến bên kia cũng đều được nhà văn xây dựng bởi những diện mạo phẩm tính rất “con người”. Đó là những con người của chế độ Việt Nam Cộng Hòa thân Mỹ những sĩ quan binh lính được giáo dục đào luyện và hành động theo lý tưởng và hoàn cảnh xã hội của họ. Và không sai chút nào những gì kết tụ trong họ cũng là tổng hòa các mối quan hệ xã hội. Tốt đẹp - xấu xa cao cả - thấp hèn lương tâm - vô liêm sỹ…đủ cả. Khuất Quang Thụy cố gắng dựng lên chân dung những người lính bên kia qua cái nhìn ít bị khúc xạ nhất và thoát ly khỏi những quan điểm chính trị đã kết kén xây tổ trong những nhà văn quân đội kỳ cựu như ông. Không có sự hạ thấp hay bôi lem mỉa mai nào ở đây. Từ những nhân vật như tướng Hoàng Xuân Lãm Ngô Quang Trưởng Du Quốc Đống…đến các sĩ quan thấp hơn như Nguyễn Văn Thọ Sơn Đường Ngô Thanh Vân Trần Thiện Khanh…và cả hạ sỹ Huỳnh Văn Thôi người lính dũng cảm đã nằm đè lên quả lựu đạn sắp nổ của đối phương để cứu cấp trên của mình đều không hề bị bóp méo thành quái dị. Hành vi phát ngôn của họ rất hợp với “vai đời” họ sắm họ cũng yêu ghét như chúng ta cũng thách đấu súng như những người đàn ông tự trọng nóng nảy cũng dẻo mỏ tán gái cũng chim chuột em út bãi đáp chính bãi đạp phụ phòng nhì vợ bé tùm lum cũng viết nhạc làm thơ khi uống tới độ cũng ca vang những bài ca truyền thống như của đại đội lính Hắc Báo Độc chiến trong rừng xanh ngã xuống trên đồng vắng./ Tấm poncho bọc thây da thịt ta hòa vào núi sông…Nghĩa là cũng đầy chất trượng phu lãng tử liều mạng hay nhu nhược ươn hèn…Họ cũng có những con người không một địch thủ nào hạ được đến đường cùng sẽ tự kết liễu đời mình như đại tá Sơn Đường.

Có những trang trong Đối chiến rất “đời” như tình cảm của trung úy nhà thơ – nhạc sỹ Trần Thiên Khanh đối với đại úy Ngô Thanh Vân   chuyện hai tướng Ngô Quốc Trưởng và Du Quốc Đống thỏa thuận tìm cách xin cấp trên tha cho Huỳnh Xuân Thời và Ngô Thanh Vân thoát án nhà binh chuyện hai anh chàng này từ chỗ đấu súng với nhau trở thành anh vợ em rể cảnh Út Nhỏ ra thăm chồng và chấp nhận Cúc Thu là vợ bé của Thời…Lạ là viết về phía bên kia mà giọng văn ngôn ngữ của Khuất Quang Thụy vẫn tràn trề tình mến thương đồng loại đồng bào tránh được sự thiên kiến như thường gặp đó đây. Tôi cho đây là một thành công đáng kể trong tiểu thuyết viết về chiến tranh này của anh.

Tuy nhiên sẽ có người đặt câu hỏi: một đội quân như thế tại sao cuối cùng lại bị thất bại thảm hại trong cuộc chiến? Đấy là vấn đề khác thuộc về nghệ thuật chiến tranh thuộc về quy luật lịch sử. Cái khác cơ bản về chất của hai lực lượng vũ trang: Quân đội nhân dân Việt Nam và Quân lực Việt Nam cộng hòa chính là văn hóa chính trị. Hãy nghe lời đối thoại của hai nhân vật hai sĩ quan của Quân đội nhân dân Việt Nam trong Đối chiến. Hỏi (Chính ủy Trần Quang Đồi): …Trong điều kiện của cuộc chiến mà chúng ta đang tiến hành thì yếu tố nào sẽ khiến ta có thể giành chiến thắng trong những trận đánh những chiến dịch cần phải thắng ạ? Đáp (Thượng tướng Bộ Tổng Tham mưu): Đó chính là yếu tố con người những yếu tố văn hóa về con người là quan trọng nhất có tính quyết định nhất…Điều đó cũng chẳng phải là một bí mật ghê gớm gì. Để xây dựng được một thế hệ những người cầm súng yêu nước. có lý tưởng và có đầy đủ bản lĩnh kỹ năng chiến đấu trên chiến trường đã là điều khó nhưng để dựng xây cả một dân tộc xây dựng cả một xã hội mà trong đó mọi người đều sẵn sàng hy sinh cống hiến đều hướng tới mục tiêu đánh thắng kẻ thù xâm lược là một điều còn khó khăn gấp bội. Nhưng điều khó khăn lớn nhất đó Đảng ta Nhà nước ta và quân đội ta đã làm được…

Câu trả lời như thế đã rõ. Lịch sử đã minh chứng cho tính đúng đắn của nó. Trong dựng nước và giữ nước không có gì thay thể được sức mạnh của dân tộc của nhân dân. Đó là năng lượng vĩ đại của sự đồng thuận cao khi nhân dân được tập hợp đoàn kết chặt chẽ dưới ngọn cờ chính nghĩa. Sức dân như nước ai dành được dân người đó sẽ chiến thắng. Trong Đối chiến có một tuyến nhân vật khác thể hiện điều này cũng rất sinh động và đầy thuyết phục. Nhưng đó không phải là nội dung của bài viết này xin được hẹn vào dịp khác.

                                                                                                                                        Đồng Xa đầu hạ 2011

alt

Quảng Trị 1972

Ảnh st trên NET

 

More...

Quán thơ ở cuối dòng sông: Mưa rào và tuổi nhỏ

By Sinh ở cuối dòng sông

MƯA RÀO VÀ TUỔI NHỎ

 

Phút chốc mặt đường rửa sạch

Và bị trẻ con chiếm lĩnh

Từ các nhà các ngõ ùa ra

Trận mưa thứ hai

Mát tươi đường phố

 

Trần truồng đen nhẫy

Các em chạy nhảy lăn bò.

Không còn bóng người lớn

Không còn vết bánh xe bụi bặm bước chân chen chúc

Chỉ các em với trận mưa to.

Hứng thẳng nước từ trời cao mà gội những mái đầu hoang dại

Tiếng các em la hét và tiếng mưa như trống như chuông.

Mưa lặng bất ngờ như mưa sa

Các em cũng biến đi tất cả

Trả lại mặt đường cho những người hối hả đua chen

Và bây giờ thân mình nhỏ nhắn của các em

Đang lặng lẽ bốc hơi từ những góc nào kín đáo.

                                       Hoàng Hưng

alt

Lời bình của Nguyễn Hữu Quý

Rõ ràng ở đây cùng một lúc có hai “cơn mưa”. Mưa rào mùa hạ và "Trận mưa thứ hai/ Mát tươi đường phố". Trận thứ hai là “mưa” trẻ con "Từ các nhà các ngõ ùa ra". Cơn mưa rào và cơn mưa tuổi nhỏ đồng hành với nhau hồn nhiên vui vẻ tưng bừng. Mưa rào đến làm cho mặt đường rửa sạch và ngay tức thì "bị trẻ con chiếm lĩnh" (cứ như bộ đội vậy) làm nên trận mưa thứ hai. Đáng yêu lắm lắm.

Chính vì thế mà nhà thơ tập trung miêu tả trận mưa thứ hai này. Những hình ảnh hồn nhiên trong sáng lần lượt xuất hiện: "Trần truồng đen nhẫy/ Các em chạy nhảy lăn bò". Sự ồn ào chen chúc bụi bặm của phố xá biến mất chỉ còn "các em với trận mưa to/ Hứng thẳng nước từ trời cao mà gội những mái đầu hoang dại". Hình ảnh thật cụ thể sinh động và mang ý nghĩa sâu sắc. Đó là thiên nhiên với con người cần phải sống hài hòa thân thiện.

Hai cơn mưa hòa trộn vào nhau náo nhiệt hứng khởi với những âm thanh: "Tiếng các em la hét và tiếng mưa như trống như chuông". Còn gì khoái hơn khi trẻ con được tắm mưa rào. Tiếng mưa nghe rộn ràng vang vang "như trống như chuông" thì đích thị là Hội rồi. Hội mưa rào vui vẻ của các em với đất trời. Âm thanh mưa rơi được khuyếch đại phóng đại lên hết cỡ nhằm diễn tả đúng niềm vui của các em và sự giao hòa thân mật giữa thiên nhiên với trẻ con. Tiếc là "Mưa lặng bất ngờ như mưa sa" nên "Các em cũng biến đi tất cả". Đường phố lại hối hả đua chen bụi bặm. Trẻ con như những giọt mưa lành đang lặng lẽ bốc hơi ở những góc nào kín đáo. Buồn. Nhưng không sao đâu các em ạ. Những giọt nước bốc hơi bay lên trời lại thành mây thành mưa. Thế là cơn mưa rào mát tươi lại trở về với tuổi nhỏ chúng ta.

 

More...

Quán thơ ở cuối dòng sông: Lá giầu

By Sinh ở cuối dòng sông

 

LÁ GIẦU

 

Sớm mai anh xuống núi

Lá giầu em rọc đôi

Nửa em ủ dưới gối

Nửa anh mang về xuôi

 

Anh đi cất cho kỹ

Kẻo có kẻ rình mò

Nhỡ có người nhìn thấy

Họ biết lại cười cho

 

Anh giữ lành anh nhé

Thơm cay một lá giầu

Nếu để rơi một nửa

Làm nửa lá kia đau

Dương Thuấn

Lời bình của Nguyễn Hữu Quý:

Có lẽ bắt đầu từ chuyện “Sự tích Trầu cau” Lá giầu mặc nhiên trở thành vật làm tin của tình yêu đôi lứa. Cũng phải thôi giầu cau theo phong tục người Việt Nam là những lễ vật không thể thiếu được trong hỏi cưới. Lá trầu quả cau trở thành biểu tượng của sự gắn bó thủy chung gái trai chồng vợ.

Cô gái trao cho người yêu (cũng có thể là chồng) một nửa chiếc lá giầu khi anh về xuôi. Đây là lời cô gái: "Sớm mai anh xuống núi / Lá giầu em rọc đôi / Nửa em ủ dưới gối / Nửa anh mang về xuôi". Do hoàn cảnh do công việc hai người phải xa nhau. Điều ấy vẫn thường xảy ra trong cuộc sống.

Tuy nhiên với tình yêu sự chia ly nào cũng đượm buồn cả. Cô gái không trao nguyên cả lá giầu cho người thân yêu của mình tại sao? Khi họ sắp xa nhau và lòng thủy chung sẽ được thử thách thì một lá giầu nguyên lành chẳng mang ý nghĩa gì cả. Hình ảnh chiếc lá giầu rọc đôi một nửa ủ dưới gối của em một nửa anh mang theo về xuôi mới nói được nhiều điều sâu kín. Nó chiếc lá giầu em rọc đôi ấy mang trong đó những gửi gắm yêu thương những hẹn ước và mong mỏi. Mong anh đi chân cứng đá mềm và đừng bao giờ quên “một nửa của mình” đang ngóng đợi anh nơi góc núi xa xôi này. Lá giầu như chiếc “bùa” tình yêu một nửa thuộc về anh một nửa ở nơi em. Nếu mất đi phần nào thì lá “bùa” ấy không còn linh nghiệm nữa và tình yêu cũng vỡ tan theo.

Chất mộc mạc hồn hậu của người miền núi thể hiện rất rõ trong dặn dò của cô gái: "Anh đi cất cho kỹ / Kẻo có kẻ rình mò / Nhỡ có người nhìn thấy /Họ biết lại cười cho". Chẳng văn vẻ quanh co một chút nào. Thật thà nhưng cũng vô cùng tinh tế sâu sắc. Dặn chồng (hay người yêu) cũng là nhắc mình gìn giữ và còn thấp thoáng trong ấy nỗi lo lo. Lo là lo có kẻ rình mò lấy mất lo là lo có người nhìn thấy cười nhạo. Tình yêu nào chẳng sợ bị đánh cắp cám dỗ tình yêu nào chẳng ngại chông chênh trắc trở tình yêu nào chẳng cần đến sự giữ gìn trước sau. Tâm lý người phụ nữ bộc lộ khá rõ trong những câu thơ không hề trau chuốt này. Khi cái tình cái ý được gói trong sự giản dị là thơ đã đạt được tới độ hay. Cái hay vượt ra ngoài câu chữ truyền cảm đến người đọc những rung động sâu sắc về cái đẹp cái thiện của cuộc sống. Khát khao cho tình yêu lành lặn vẹn nguyên tràn đầy hạnh phúc có ở trong mọi người phụ nữ:" Anh giữ lành anh nhé / Thơm cay một lá giầu / Nếu để rơi một nửa / Làm nửa lá kia đau".

"Nếu"…đó chính là hình dung về sự khổ đau của cô gái khi tình yêu tan vỡ. Một nửa bị đánh rơi có nghĩa là không còn thơm cay một lá giầu nữa cũng như tình yêu đâu chỉ làm nên được bởi một người.

alt

Ảnh st trên NET

 

 

 

 

More...

Quán thơ ở cuối dòng sông: Trên cánh đồng quê

By Sinh ở cuối dòng sông

alt

TRÊN CÁNH ĐỒNG QUÊ

 

Cuối ngày

đủng đỉnh trâu về

Cưỡi trâu

Cưỡi cả con đê cỏ vàng

Hai sừng đã chạm cổng làng

Bốn chân

bì bõm chưa sang khỏi chiều.

Cái đuôi

sau rốt vòng vèo

Còn vung vẩy nốt

chút heo may đồng.

                      Đỗ Vinh

Lời bình của Nguyễn Hữu Quý

Với bài thơ này tác giả Đỗ Vinh đã được trao giải nhì (không có nhất) trong cuộc thi Sáng tác văn học vì trẻ em do Ủy ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em Việt Nam Hội Nhà văn Việt Nam và UNICEP tổ chức năm 2001. Bài thơ như một bức ký họa ít nét nhưng đẹp và lạ về cánh đồng quê. Những hình ảnh quen thuộc của đồng quê đã được tác giả lạ hóa một cách khéo léo tài hoa do vậy đã tạo được ấn tượng thú vị cho người đọc.

Trước hết nói về thể loại thơ: Đọc "Trên cánh đồng quê" chắc ta không khó nhận ra bài thơ này được làm theo thể lục bát ( còn được gọi là thơ sáu tám). Thông thường tác giả có thể viết thế này: "Cuối ngày đủng đỉnh trâu về / Cưỡi trâu cưỡi cả con đê cỏ vàng…" Nhưng ở bài này Đỗ Vinh đã phá lệ ngắt 2 câu lục và bát thành 4: "Cuối ngày / đủng đỉnh trâu về / Cưỡi trâu / Cưỡi cả con đê cỏ vàng". Đây là một sự cố ý nghệ thuật. Mỗi câu thơ có một điểm dừng ngắn tựa như một dấu lặng để tạo ra tiết tấu 2/4 và 2/6 đủng đỉnh thong dong không giống tiết tấu 6/8 nhanh nhanh thường thấy nữa. Những cặp lục bát sau cũng thế giữ chủ đạo vẫn là tiết tấu 2/4 và 2/6. Hiện lên trước mắt ta một cánh đồng quê thoáng đãng cuối chiều với những mục đồng ung dung thong thả cưỡi trâu về nhà trong tiết heo may se se gió.

Tuy nhiên điều đáng nói nhất ở bài thơ này là sự lạ hóa những cảnh vật quen thuộc. Đọc 3 câu thơ đầu tiên: "Cuối ngày / đủng đỉnh trâu về / Cưỡi trâu…" ta chưa thấy cái lạ xuât hiện; mới chỉ là thông báo về thời gian và sự vật. Đến câu thứ 4: "Cưỡi cả con đê cỏ vàng" thì cái lạ đã lấp ló. Cháu chắt chút chít của Phù Đổng Thiên Vương – những chú bé chăn trâu- tự dưng được cao lớn thêm rất nhiều về vị thế tầm vóc. Cái quen: cưỡi trâu nhờ sự liên tưởng ngộ nghĩnh hồn nhiên (một yếu tố rất quan trọng của thơ thiếu nhi) của nhà thơ biến  thành cái lạ: "cưỡi cả con đê cỏ vàng". Hình ảnh chú bé cưỡi trâu đi trên đê làng đã được lạ hóa như thế.

Nhưng cái sự lạ hóa  đạt đến đỉnh của bài thơ này là ở việc miêu tả hình ảnh con vật đầu cơ nghiệp của người nông dân chân lấm tay bùn một nắng hai sương muôn thuở: "Hai sừng đã chạm cổng làng / Bốn chân / bì bõm chưa sang khỏi chiều. / Cái đuôi / sau rốt vòng vèo / Còn vung vẩy nốt / chút heo may đồng". Thực lòng mà nói thì cái hay của đoạn thơ này không dễ phân tích rành rọt mà chỉ cảm nhận được rằng: con trâu trong thơ Đỗ Vinh bỗng trở nên huyền ảo kỳ lạ; nó gánh trên mình không gian thời gian cùng những sắc màu thanh âm thân thiết quen thuộc của làng quê từ chiếc cổng làng phong rêu đến tiếng bì bõm vang lên từ mặt ruộng chút nắng vàng sót lại và tiết heo may của cánh đồng mùa thu. Tần suất từ lấp láy (bì bõm vòng vèo vung vẩy) xuất hiện khá dày góp phần làm cho bài thơ mềm mại gợi hình gợi cảm hơn và mang phong vị truyền thống rất rõ rệt.

Buổi chiều đồng quê vừa quen vừa lạ ấy mới dùng dằng níu náu đáng yêu làm sao.

 

More...

Lăng kính của Tui: Hầu chuyện Hậu duệ Thần Kim Quy

By Sinh ở cuối dòng sông

HẦU CHUYỆN HẬU DUỆ THẦN KIM QUY

 

Hậu duệ Thần Kim Quy đấy là cách tôi gọi Cụ Rùa Hồ Gươm kính mến của chúng ta. Sau một thời gian sống ngột ngạt trong lòng Hồ Gươm ô nhiễm nặng và bị lũ rùa tai đỏ phàm ăn “quấy nhiễu” Cụ được phát hiện bị bệnh và được đưa lên “bể thông minh” ở chân Tháp Rùa để điều trị. May mắn tôi đã gặp Cụ và có mấy chục phút được hầu chuyện với Hậu duệ Thần Kim Quy này.

Tôi:Chào Cụ! Xin giới thiệu cháu là nhà báo. Cháu đến thăm Cụ đây ạ!

Cụ Rùa: Chào cháu. Ta cảm ơn tình cảm của cháu dành cho ta. Thế ngoài việc thăm ta cháu còn muốn gì nữa không?

Tôi:Dạ. Cháu thật sự áy náy khi đường đột đến làm phiền Cụ khi biết rằng Cụ vừa trải qua những tháng ngày sống mệt nhọc trong môi trường thiếu trong sạch của Hồ Gươm và đang được chữa bệnh. Nhưng cầm lòng không đặng cháu muốn được có mấy lời thưa với Cụ…

Cụ  Rùa: (mỉm cười) Thói quen nghề nghiệp đúng không! Ta chưa được khỏe lắm nhưng lẽ nào lại từ chối nhà báo. Nào cháu bắt đầu đi.

Tôi: Trước tiên cháu muốn hỏi Cụ có cảm giác thế nào khi được “lai dắt” về đây để chữa bệnh.

Cụ Rùa: Ta sống ở hồ tự do quen rồi nên cảm thấy không thoái mái lắm khi bị “bắt” vào ở trong cái bể bé nhỏ này. Nhưng ta nghĩ con cháu không muốn thế. Chẳng qua vì ta bị bệnh nên “chúng nó” mới đưa ta vào đây để điều trị. Việc bất đắc dĩ thôi. Nói là chật vậy nhưng ta cũng được ưu tiên đấy VIP mà! (cười). Ta biết nhiều bệnh viện ở Nước Nam mình 2-3 bệnh nhân nằm chung một giường chật chội bức bối lắm.

Tôi: Vâng đất nước mình còn nghèo nên đụng vào cái gì cũng khó khăn thiếu thốn lắm ạ.

Cụ Rùa: Ta biết chứ. Từ xưa đến nay Nước Nam mình đã giàu bao giờ đâu. Có giàu cũng chỉ là giàu tiềm năng như cách các cháu hay nói. Giàu theo cách các cháu được học trong sách giáo khoa là « Việt Nam rừng vàng biển bạc ». Còn dân mình ta biết còn khổ lắm. Thời Cố ta Thần Kim Quy dân mình đã khổ rồi đến bây giờ qua thập kỷ thứ 2 của thế kỷ 21 vẫn khổ vẫn thiếu vẫn khó. Nhưng mà này khổ là khổ dân thôi chứ ta thấy nhiều ông cán bộ giàu lắm ; biệt thự đất cát xe hơi vàng đô la dư dả. Cuộc sống gia đình họ con cái họ so với dân lành cách nhau một trời một vực.

Tôi : Dạ điều ấy thì ai cũng thấy nhưng khó nói lắm Cụ ạ. Người ta vẫn biết nguồn gốc của sự giàu sang bất thường ấy là gì nhưng khó tìm được chứng cứ để luận tội.

Cụ Rùa : Ta biết nạn tham nhũng ở Nước Nam mình bây giờ đã trở thành « quốc nạn ». Biết họ giàu lên vùn vụt không phải nhờ đồng lương nhờ làm thêm mà chủ yếu là do tham nhũng nhận hối lộ.(thở dài). Nhưng ta biết cuộc chiến chống giặc nội xâm tham nhũng này vô cùng phức tạp và gian nan vì nó không có phòng tuyến trận địa rõ rệt không nhìn thấy kẻ thù dễ dàng địch là ta ta là địch trong ta có địch trong địch có ta cứ lẫn lộn mờ mờ ảo ảo như thế. Vả lại muốn tham nhũng phải có mảng có bè có phái dây mơ rễ má lằng nhằng lắm cháu ơi. Ta nói cho vuông nhé Nước Nam mình dân mình muốn hết khổ muốn giàu mạnh lên phải tuyên chiến với nạn tham nhũng hối lộ này. Nói và làm phải đi đôi. Phải dần dà quét sạch quốc nạn này cháu ạ.

Tôi : Thưa Cụ cháu nghĩ là khó khó lắm. Đảng Nhà nước đã hô hào bao lần chống tham nhũng hối lộ nhưng xem ra kết quả dành được chưa là mấy. Vả lại có người lập luận rằng : làm cán bộ mà không tham nhũng thì lấy gì nuôi vợ nuôi con làm sao mà khá lên được. Vậy thì chẳng ai muốn làm cán bộ nữa.

Cụ Rùa : Cháu này làm người ai chẳng muốn giàu muốn sướng cho bản thân mình và gia đình mình. Nhưng phải biết trông xa trông gần. Trong khi dân tình còn vất vả cơ cực như thế mà mình cứ giàu nứt đố đổ vách ra nhờ đồng tiền bẩn thì nhìn sao đặng. Một xã hội mà mọi công việc mọi mối quan hệ đều phải dùng đồng tiền để bôi trơn và văn hóa phong bì như các cháu hay gọi đã trở thành chuyện thường ngày không cưỡng lại được là một xã hội hư hỏng đấy cháu ạ. Ta chỉ nên hưởng lợi từ những cái mình làm ra bằng mồ hôi trí óc của mình. Làm bao nhiêu hưởng bấy nhiêu. Tuy nhiên xã hội mà nói cụ thể Nhà nước phải trả công xứng đáng cho cán bộ để họ đủ nuôi sống gia đình.

Tôi : Theo ý Cụ là với « quốc nạn » tham nhũng ta không nhân nhượng thoái lui. Phải tấn công đến cùng. Và Nhà nước phải có cơ chế quản lý phù hợp tiến bộ.

Cụ Rùa : Ta chưa qua lớp cao cấp lý luận chính trị nào nên ta không rõ lắm khái niệm cơ chế cơ chiếc như cháu nói. Ta chỉ nói thế này : Luật Nước phải nghiêm. Nghiêm mới trừng trị được lũ tham quan. Và chống tham nhũng phải chống từ trên xuống như quét cầu thang vậy. Trên u ám mờ đục rác rưởi thì chớ mong dưới trong sáng tỏ tường quang quẽ. Muốn làm được việc này trước hết phải xây dựng được một đội ngũ quan à..à...cán bộ thực sự  có đức có tài. Nói như Hồ Chí Minh tiên sinh thì đó phải là những công bộc trung thành và tận tụy của dân. Theo ta đây cũng là việc khó. Nghe nói song song với nạn tham ô hối lộ nạn chạy chức chạy quyền cũng ghê gớm lắm phải không ?

Tôi : Dạ thưa Cụ hình như thế.

Cụ Rùa : Không được ! Ta đã từng nghe ai nói thế này hình như là Ngài Khổng Tử bên Nước Tàu thì phải : Đề cử người ngay thẳng lên trên hạng người cong queo thì dân phục. Đề cử người cong queo lên trên người ngay thẳng thì dân không phục. Phải nên xem dân là Trời dân là to nhất. Trời không có mắt có tai dân nhìn tức là Trời nhìn dân nghe tức là Trời nghe. Đừng bịt mắt dân đừng che tai dân. Sòng phẳng công khai trung thực dân sẽ tin sẽ yêu sẽ theo sẽ ủng hộ đến cùng. Nếu ngược lại thì vô cùng nguy hại.

Tôi : Vâng cháu hiểu. Điều này thì chúng cháu đã được giáo dục nhiều. Chính quyền của ta là « của dân do dân vì dân » ạ.

Cụ Rùa : Này cháu nghe ta đây. « Nói hay cày dở » là mất lòng tin lắm đấy nhé. Nói phải đi đôi với làm. Nói một làm mười dân mới tin dân mới phục. Ta thấy nhiều ông quan...khi giải trình trước Quốc hội thì hứa rất hay rất hùng hồn nhưng rồi khuyết điểm yếu kém vẫn đâu lại vào đấy. Thế mà các quan ấy vẫn tại vị bình thường vẫn chẳng bị kỷ luật gì cả. Lạ thật. Quản lý xã hội quản lý kinh tế yếu kém hàng nghìn tỉ tiền công bị đổ xuống sông xuống biển như cái vụ Vinasin gì đấy mà có mấy người bị kỷ luật đâu. Theo ta ít nhất thì những người có liên đới về trách nhiệm quản lý và tài chính phải bị khiển trách chứ không thể chỉ phê bình rút kinh nghiệm được. Phê bình là một việc làm thường xuyên trong Đảng trong chính quyền chứ không phải hình thức kỷ luật.

Tôi : Cụ nói Cụ chưa qua lớp lý luận cao cấp chính trị nào mà nói cứ đúng như trong sách bọn cháu từng học.

Cụ Rùa : Thì cũng cho ta « hoành tráng » một chút chứ. Mà này hình như ta cũng bị lây cái thói cao giọng hùng hồn của cán bộ Nước Nam mình rồi hay sao đấy. Toàn thích nói những điều to tát cao vợi mà quên thủ thỉ dặn dò những cái bé nhỏ nhưng rất cần thiết cho cuộc sống.

Tôi : Cụ ơi thế cụ có quan tâm đến chuyện văn chương không ạ ?

Cụ Rùa : Văn chương à ? Ta cũng biết chút xíu. Ta cũng biết Nước Nam mình có bài thơ « Nam quốc sơn hà » của Ngài Lý Thường Kiệt « Hịch tướng sĩ » của Ngài Trần Hưng Đạo « Đại cáo Bình Ngô » của Ngài Nguyễn Trãi « Truyện Kiều » của thi hào Nguyễn Du...Đó là những áng hùng văn của dân tộc gắn liền với những cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm phương Bắc và là tuyệt tác nói về thân phận con người ở Nước Nam mình...

Tôi : Con cháu bây giờ có người vẫn viết về các nhân vật lịch sử đấy Cụ ạ !

Cụ Rùa : Điều ấy ta có nghe nói. Nhưng mà sao ?

Tôi : Thưa Cụ. Các nhà văn khi viết về một số nhân vật lịch sử như Hồ Quý Ly Quang Trung Lê Lợi Nguyễn Trãi Nguyễn Ánh...có hư cấu ít nhiều và đã gây nên những tranh cãi. Nhất là những trường hợp các nhân vật lịch sử bị nhìn nhận dưới góc độ con người có những mặt xấu tiêu cực.

Cụ Rùa : Ái chà. Ta nghĩ : nhà văn nào khi viết mà chẳng hư cấu bịa đặt. Các anh từng định nghĩa tiểu thuyết là bịa như thật cơ mà. Nhưng tôi nói nhé các anh nên ngẫm nghĩ kỹ càng sâu sắc về chữ « thật » ở đây. Thật không phải là đánh tráo khái niệm đánh tráo bản chất không phải lấy bóng tối phủ lên ánh sáng lấy phi nghĩa lấp lên chính nghĩa biến thù thành bạn biến bạn thành thù.Ý ta là thế. Cũng hư cấu nhưng tại sao tiểu thuyết Hồ Quý Ly lại hay và nhận được sự đồng thuận cao đến vậy còn những truyện khác thì có người chê kẻ khen. Ta nghĩ rằng hư cấu không có nghĩa là viết về Hùng Vương như một vị tù trưởng « mông muội độc đoán » hay các nhân vật lịch sử khác xưa và nay mà dân Việt mình tôn thờ cũng phải đầy những tì vết mới là nhân văn. Nhân văn ở đây là đồng thuận với sự tôn kính của dân tộc là làm đẹp dân tộc lên. Không ai phỉ báng tổ tiên ông bà cha mẹ dù dưới góc độ con người khi sống họ cũng khuyết điểm đầy mình. Một ông vua mê người đẹp có gì là lạ một vị tướng yêu con gái của đất nước mình xâm lược cũng chẳng mới . Cái chính nhà văn các anh có hư cấu trời đất gì cũng phải biết tôn trọng cốt lõi lịch sử và phải đặt câu hỏi vì sao nhân dân ta lại kính yêu người đó trước khi gõ vào bàn phím. Ta không nói xa xôi nữa trong mỗi dòng họ có một nhà thờ trong mỗi gia đình có một ban thờ ; không thể mượn bất cứ lý do gì để làm uế tạp lem luốc nó cả. Không được xả rác nhổ bậy thậm chí nói năng tục tĩu bỗ bã ở những nơi chốn ấy. Con người nghĩ ra thần tích huyền thoại là có lý do cả đấy. Đã là cái để thờ thì phải biết gìn giữ coi sóc cẩn trọng. Tổ quốc dân tộc tôn vinh và thờ tự các anh hùng cứu nước các danh nhân... xưa nay. Đó là những giá trị thiêng liêng rất thiêng liêng nếu có viết về họ cũng phải cẩn trọng đúng mực nếu không sẽ tạo ra những tiền lệ lợi bất cập hại.

Tôi : Vâng cháu xin ghi lòng tạc dạ những khuyên bảo của Cụ. Chúc Cụ điều trị bệnh chóng khỏi. Sự khỏe mạnh của Cụ mang lại niềm vui lớn cho dân mình đấy Cụ ạ.

Cụ Rùa : Ta biết ta biết. Nhưng cũng chớ lo cho ta quá. Nếu đến lúc nào đó theo quy luật “sinh lão bệnh tử” ta không có mặt trên đời này nữa thì ánh hào quang của lịch sử vẫn chẳng bao giờ mất đi trên mặt nước Hồ Gươm và trên suốt dải đất Nước Nam này.

Tôi: Ôi Cụ nói hay quá. Cứ như là nhà văn nhà thơ vậy.

Cụ Rùa: Đừng khen ta thế. Nhưng biết đâu sau cái vụ chữa bệnh mấy nghìn năm mới có một này ta sẽ hứng lên viết hồi ký…

Tôi (sững sờ): Dạ thưa Cụ chúng cháu mong Cụ viết hồi ký lắm ạ. Mấy thế kỷ là nhân chứng của những thăng trầm lịch sử dân tộc cháu tin hồi ký của Cụ sẽ rất hay. Dạ cháu cảm ơn Cụ và xin phép Cụ cháu về.

Thanh Khê

(Thực hiện)

alt

 

More...