Chiều và Mẹ

By Sinh ở cuối dòng sông

alt

CHIỀU VÀ MẸ

Tản văn Nguyễn Hữu Quý

 

Gọi là gì cái buổi chiều lòng ta chợt thấy buồn vô cớ?

Cái kiểu buồn khó diễn tả và càng không cắt nghĩa được nguồn cơn ấy cứ vu vơ vu vơ như nắng như gió vào chiều.

Ta và bạn. Hai đứa đi xuyên qua thành phố đông nghịt người xe khét mù khói bụi để tìm về nơi gốc rạ lô xô.

Ngoại thành.

Bạn. Ta. Im lặng ngồi bên nhau dưới bầu trời tim tím màu hoa xoan đang được chiều đẩy lên cao. Hít thở mùi ruộng mùi mùa màng đang vãn mùi ký ức…Chợt gần chợt xa chợt nao nao nhớ lại những buổi chiều ta có mẹ.

Mẹ. Nón lá. Áo nâu. Tay liềm. Chân đất.

Mẹ. Lom khom giữa mênh mang cánh đồng thơm hạt thơm bông.

Mẹ. Cặm cụi gặt hái như không biết chạng vạng hoàng hôn đang lặng lẽ trôi về.

Mẹ!

Sự lặng lẽ tột cùng trong mọi sự lặng lẽ. Sự khiêm nhịn tột cùng trong mọi sự khiêm nhịn. Sự bao dung tột cùng trong mọi sự bao dung.

Mẹ ta mẹ bạn đã lặn vào chiều.

Mẹ bạn ở nơi châu thổ mênh mông bờ xôi ruộng mật...

Mẹ ta suốt đời gắn bó với rẻo đồng dưới chân dãy Trường Sơn trùng điệp. Núi thì cao. Biển thì rộng. Rẻo đồng hẹp hơn điệu lý câu hò nơi eo thắt nhất của đất nước ấy thiên nhiên muôn đời nay vô cùng khắc bạc. Cát trắng gió Lào chang chang hừng hực suốt nửa năm trời.

Miền đất ta sinh ra hẹp đến mức ta từng nghĩ nếu nó không neo bám vào Trường Sơn thì e có ngày bị trôi ra biển. Ấy nhưng chiều bao nhiêu chiều không ôm hết rẻo đồng hạn hẹp của mẹ để sự mênh mông tồn tại mãi với bây giờ tồn tại tới mai sau như tình mẫu tử vô tận.

Dù sinh ra ở mảnh đất nào thì tình mẹ lòng mẹ vẫn cứ bao la sâu thẳm như nhau.

Một câu thơ mộc mạc lang thang giữa mênh mông ấy cũng là chiều. Câu thơ của bạn của ta đang đi về phía mẹ. Phía mặt trời lặn xuống sau những rặng núi mờ xa. Phía cõi chiều sâu lắng của chốn quê và mẹ yêu thương.

alt

Ảnh st trên NET

 

More...

Những nẻo đường Đất Nước: Chấm phá Quan Lạn

By Sinh ở cuối dòng sông

CHẤM PHÁ QUAN LẠN

Nguyễn Hữu Quý

Từ bến Vân Đồn đi tàu cao tốc ra đảo Quan Lạn chỉ khoảng 55 phút. Nếu đi tàu gỗ bình thường thời gian chừng 2 giờ. Tùy theo lựa chọn của du khách thích thong thả để ngắm cảnh Bái Tử Long hữu tình thì đi tàu gỗ còn muốn ra đảo nhanh thì dùng tàu cao tốc. Vì công việc chúng tôi chọn tàu cao tốc ra đảo chuyến chiều lúc 14 giờ. Chuyến sáng đã xuất phát lúc 7 giờ.

Con tàu màu trắng hiện đại xé nước lao đi với tốc độ khá lớn nhưng vẫn không ảnh hưởng tới việc ngắm biển đảo của chúng tôi. Tàu chạy trong lòng vịnh Bái Tử Long mặt nước màu ngọc bích êm đềm in bóng muôn vàn đảo lớn đảo nhỏ với nhiều hình thù khác nhau. Có những đảo chạy dài như núi ở đất liền đã được phủ kín bạch đàn. Đi biển nhưng cảm giác mênh mang xa cách đất liền không rõ lắm vì đảo rất nhiều và thỉnh thoảng lại gặp những cụm nhà nổi bồng bềnh trên mặt nước. Có đảo chỉ có một vài ngôi nhà mới dựng lợp ngói đỏ tươi hay tôn màu sáng loáng. Đấy là nhà của những ngư dân đánh bắt hay nuôi hải sản. Nét làng Việt thân thương thấp thoáng trong ánh chiều tà trải dọc con đường ra Quan Lạn.

Quan Lạn đây rồi yên bình và hoang sơ vắng vẻ. Một cuốc xe lam từ bến tàu đưa chúng tôi vào trung tâm đảo. Gần lắm cảm giác ngồi trên những chiếc xe ngựa chạy loong coong ở Nam Bộ. Dư dả thoáng đãng gió biển khí trời. Những cồn cát trắng mọc đầy phi lao chạy dài suốt dọc đường đi. Lại có những bãi đất trồng lạc trồng khoai như nhiều vùng quê ở đất liền. Đảo mang hồn Việt từ lâu cách đây trên mười thế kỷ dấu chân ông cha ta đã đặt lên hoang vu mảnh đất này.

Theo các tài liệu tôi đọc được Quan Lạn nằm trong tuyến đảo phía ngoài cùng của vịnh Bắc Bộ diện tích khoảng 11 cây số vuông. Là một xã đảo có 8 thôn thuộc huyện Vân Đồn tỉnh Quảng Ninh. Từ thế kỷ XI đây đã là trung tâm của thương cảng cổ Vân Đồn. Quan Lạn là nơi còn lưu nhiều dấu tích dựng nước giữ nước của ông cha ta trên vùng biển đông bắc Tổ quốc này. Đình Quan Lạn là “điểm thiêng” mang dấu ấn lịch sử văn hóa của đảo. Đình tọa trên một khu đất bằng phẳng trông ra biển bao la có tòa đại đình dài 20 3 mét gồm 3 gian 2 chái và hậu cung sâu tới 27 8 mét. Tứ linh tứ quý hoa bướm giơi là những đề tài hình ảnh được thể hiện rất tinh xảo trong hoa văn trang trí ở đình. Thượng tướng Trần Khánh Dư người có công lớn trong trận đánh tan đoàn thuyền lương của giặc Nguyên Mông do Trương Văn Hổ chỉ huy năm 1288 là Thần chủ của đình. Tượng thần chủ Trần Khánh Dư đầu đội mũ cánh chuồn ngồi uy nghi lẫm liệt được đặt trong đình. Đó là một địa chỉ tâm linh mà dân bản địa và khách thập phương đến Quan Lạn đều rất thành kính.

Chúng tôi ra Quan Lạn không đúng dịp lễ hội Vân Đồn nên chưa tận mắt chứng kiến những hoạt động văn hóa dân gian độc đáo của đảo. Tuy vậy nghe dân kể lại đã thích. Lễ được kéo dài trong 10 ngày từ mồng 10 đến 20 tháng 6 âm lịch nhằm tôn vinh Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư và các bộ tướng người địa phương ( ba anh em họ Phạm). Nơi tổ chức chính của lễ hội là đình Quan Lạn và miếu Đức Ông (thờ Phạm Công Chính). Các nghi lễ truyền thống như thay áo cải lịch cho các nhân thần trong đền miếu cùng với các lễ rước lễ tế thần được tiến hành trang trọng chu đáo. Lễ và hội đan xen nhau hài hòa. Điểm nhấn của hội là đua thuyền. Trai tráng trong làng chia thành hai giáp văn – võ rồi các giáp chọn ra người tham gia hội đua thuyền. Đội thuyền giáp văn thi đấu với đội thuyền giáp võ trong sự hò reo cổ vũ náo nhiệt của dân làng và du khách. Khí thế và hình bóng của các tướng lĩnh binh sỹ thời Trần trong trận thủy chiến Vân Đồn chống giặc phương Bắc xâm lược được tái hiện sinh động ở hội đua thuyền.

Mùa hạ các bãi tắm ở đảo như Quan Lạn Sơn Hào Minh Châu khá đông khách. Lúc đó kiếm được một phòng nghỉ ở Quan Lạn không dễ dàng.

Khi đi bộ xuyên qua những đồi cây hoang dại ríu ra ríu rít tiếng chim chiều thỉnh thoảng lại gặp chú cú mèo to tướng giương đôi mắt tròn xoe để ra bãi cát Minh Châu trắng mịn thưa vắng bóng người chúng tôi thấy thanh thản vô cùng. Biển xanh cát trắng vẫn còn nhiều nét tinh khôi trong sạch. Mong sao đừng mọc lên ở đây những ngôi nhà cao tầng ngất ngưởng lòe loẹt đừng can thiệp quá đáng vào những cồn cát rặng phi lao đồi cây hoang dại kia. Nghĩ thế nhưng trong tôi vẫn dâng lên sự lo ngại. Không ít nơi người ta đã làm du lịch theo kiểu “mì ăn liền” chỉ biết bóc lột tàn phá thiên nhiên.

          Trở về Hà Nội cầm trên tay viên đá nhặt được trên bãi biển màu nâu đỏ được sóng mài nhẵn nhưng lại có những lỗ tròn rất lạ như tác phẩm của người tiền sử vậy tôi chợt thấy Quan Lạn rất gần. Và thật đáng yêu ở nét thanh bình thoáng đãng hoang sơ của đảo. Mong Quan Lạn đừng đánh mất sự hài hòa thân thiện với thiên nhiên để mãi là khu du lịch xanh sạch đẹp hấp dẫn du khách gần xa.

alt

Ảnh st trên NET  

More...

Những nẻo đường Đất Nước: Cảm nhận Thái Bình

By Sinh ở cuối dòng sông

CẢM NHẬN THÁI BÌNH

Bút ký Nguyễn Hữu Quý

 Cách đây mười ba năm tôi đã đếnThái Bình. Hồi ấy quê hương năm tấn “thóc không thiếu một cân quân không thiếu một người” của thời đánh Mỹ đang là “điểm nóng”. Tôi chị Nguyễn Thị Như Trang anh Sương Nguyệt Minh theo chân nhà văn Nguyễn Chí Trung lúc bấy giờ là trợ lý của nguyên Tổng bí thư Lê Khả Phiêu về một xã nóng nhất của Quỳnh Phụ. Về nông thôn nhưng theo ý bác Trung đoàn công tác vẫn phải cơm đùm gạo bới như thời bao cấp. Lúc ấy phà Tân Đệ vẫn còn và sau khi vượt sông Hồng để đặt chân lên mảnh đất Thái Bình cánh nhà văn tạp chí Văn nghệ quân đội chúng tôi phần nào đã cảm nhận được không khí bức bách tỏa ra từ những làng quê ở đây. Chuyện cũ được nhắc lại khi xe bon bon trên cầu Tân Đệ sang Thái Bình trong chuyến đi thực tế  của những nhà văn mang áo lính chúng tôi.

Vùng đất này nuôi dưỡng khí phách mãnh liệt sự thẳng thắn cương trực khác thường tôi nghĩ thế. Trong sự yên hòa của Thái Bình bây giờ tôi thấy thấp thoáng hào khí Đông A sáng tỏa hừng hực từ mảnh đất phát nghiệp Nhà Trần. Đâu đây hiện lộ anh linh tướng quân Uy Viễn Nguyễn Công Trứ chất ngang tàng của bốn phương tụ bạ về vùng đất bồi mặn mòi chân sóng và gần ta hơn là tiếng trống Tiền Hải âm vang dưới cờ búa liềm tung bay trong gió biển. Nhiều tài danh sinh ra từ đất này tạo dấu ấn lịch sử vang dội gắn với những thời khắc khó quên của đất nước. Triều đại Nhà Trần lừng danh muôn thuở với kỳ tích ba lần chiến thắng giặc Nguyên Mông. Còn đó đền thờ các Vua Trần tại xã Tiến Đức huyện Hưng Hà (Thái Đường Long Hưng xưa). Đây là đất phát tích đất tôn miếu Nhà Trần hơn bảy thế kỷ trước. Thái Đường lăng linh dị giang sơn/ Trần sử diễn truyền kim thắng địa ( Lăng Thái Đường linh dị núi sông/ Sử Triều Trần còn truyền danh thắng). Mảnh đất này sinh ra Lê Quý Đôn nhà bác học nổi tiếng trên đất Việt. Tiếp nối Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn…thời hiện đại có danh tướng Hoàng Văn Thái cầm quân đánh giặc lẫy lừng anh hùng Phạm Tuân phi công Việt Nam đầu tiên bắn cháy B52 Mỹ và bay lên vũ trụ. Chưa hết Tạ Quang Luật người phất cờ Quyết thắng trên nóc hầm Đờ cát xtơri ở Điện Biên Phủ ngày 7 tháng 5 năm 1954 là người Thái Bình “đồng hương” với Bùi Quang Thận người cắm cờ Giải phóng lên dinh Độc lập ở Sài Gòn vào ngày 30 tháng 4 năm 1975. Những thời khắc lịch sử vô cùng trọng đại của đất nước lấp lánh tên tuổi người Thái Bình. Niềm tự hào ấy không phải nơi nào cũng có.

Thái Bình của thời đổi mới không thiếu cái hay để nói không thiếu những anh hùng khiến ta phải nghiêng mình kính nể. Trần Văn Sen là một điển hình. Ông là ai? Xin thưa đó là nghệ nhân Anh hùng lao động Tổng giám đốc Công ty TNHH Hương Sen. Dựng được cơ ngơi hoành tráng như bây giờ Trần Văn Sen cũng đã từng trăn trở nhiều lắm trước cái nghèo của dân của nước. Khởi nghiệp từ việc bán một phần đất nhà mình để lấy tiền sang Nam Định Hà Tây (cũ) học nghề dệt mang về quê hương Hưng Hà. Thế mà thành công. Từ không thành có từ ít thành nhiều Hưng Hà giờ đây ngoài huyện lúa với những cánh đồng lung linh như huyền thoại còn là  huyện dệt vì 23/24 xã có nghề dệt lụa sa tanh vải bò xuất khẩu. Hai năm sau khi Đảng chủ trương đổi mới năm 1988 Trần Văn Sen đã vay tiền của bạn bè người thân thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn đầu tiên. Hỏi : tại sao bác liều thế ? Ông trả lời : thấy hàng Trung Quốc tràn ngập nước mình đêm ngày trằn trọc họ làm được sao mình không làm được thế là máu lên thôi. Lập doanh nghiệp tư nhân nhưng không hề giảm sút lòng tin vào Đảng. Chứng cớ rành rành đây : công ty ông là một trong những doanh nghiệp tư nhân đầu tiên trong nước thành lập chi bộ và sắp tới sẽ đề nghị nâng lên thành đảng bộ. Ông kể đã có bảy đồng chí ủy viên Bộ Chính trị trong đó có bác Đỗ Mười đến công ty ông nghiên cứu về mô hình doanh nghiệp tư nhân. Hiện tại việc ấy rất bình thường nhưng mười mấy năm về trước thì đó là cơn gió mới. Công ty sản xuất bia và nước giải khát của Trần Văn Sen hiện giờ là một doanh nghiệp sáng giá của Thái Bình. Sản phẩm bia đen mang tên Đại Việt của Công ty đã được xuất khẩu qua Mỹ và 30 nước khác trên thế giới. Xin nói thêm sản phẩm bia chai Dark beer (bia đen xuất khẩu) đã được trao Cúp  Bạch Kim  đỉnh cao chất lượng Việt Nam năm 2008. Năm 2009 Công ty nộp cho Nhà nước 190 tỉ đồng năm 2010 con số ấy đã là 350 tỉ. 350 tỉ/ 500 tỉ của tỉnh Thái Bình sự đóng góp không nhỏ. Chúng tôi thật sự ngỡ ngàng khi đến thăm nhà máy bia Hương Sen. Sạch sẽ. Ngăn nắp. Còn hơn phòng khách nhà mình tôi thốt lên. Nhìn ra xung quanh phía ngoài Nhà máy những thảm cỏ xanh rờn và khá nhiều cây cối tươi tốt. Cái gì cũng có giá của nó cả. Năm 1993 1994 Công ty mời Bộ Quốc phòng đến tư vấn cho việc bảo vệ môi trường .Sau đó Tổng giám đốc Trần Văn Sen cho mời chuyên gia môi trường ở Nhật Bản bay qua đây nghiên cứu và tư vấn cho Nhà máy. Ông nói vừa rồi chấm điểm về môi trường Nhà máy bia Hương Sen đạt 99/100 điểm.

Tư duy làm ăn của người Thái Bình đã bắt nhịp vào sự hội nhập quốc gia quốc tế. Sản phẩm làm ra từ hạt lúa chai bia đến hàng dệt may thủy sản phải có giá trị hàng hóa cao. Trong trồng lúa vấn đề tăng năng suất bây giờ không quan trọng bằng nâng cao chất lượng gạo. Hạt gạo phải ngon hơn thơm hơn và đẹp hơn mới chiếm lĩnh được thị trường với giá cao hơn. Trên một nửa tổng diện tích của Tiền Hải đã cấy giống lúa chất lượng cao. Hưng Hà cũng gần gần như thế. Năm mười năm nữa theo như bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Hạnh Phúc nói thì Thái Bình vẫn là tỉnh nông nghiệp vậy nên quê ta vẫn phải bám vào cây lúa để làm giàu. 65 % thường dân Thái Bình còn phải phấn đấu làm giàu trên những cánh đồng quê hương thân thuộc tuy cơ cấu kinh tế đã đổi thay nhiều theo hướng tăng tỉ lệ công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp - dịch vụ. Nghĩa là trong tương lai gần Thái Bình phải có những khu nông nghiệp công nghệ cao. Chủ tịch Tỉnh đã bay qua Nhật Bản học hỏi điều này rồi. Cũng chẳng còn sớm nữa thời đại này chậm bước nào là thiệt bước nấy thôi phải chạy đua với thời gian. Chạy đua không biết mệt mỏi.

Con ngao được nhắc đến nhiều lần trong chuyến về Thái Bình của chúng tôi lần này. Mặc dầu biển Thái Bình không chỉ có mỗi ngao. Về xã Nam Thịnh huyện Tiền Hải đứng ở Cửa Lân trông ra biển thấy nhấp nhô trên mặt nước nhiều chiếc chòi nhỏ. Và xa xa những đoàn người lấp xấp đi trên mặt bùn nhão nhoét lúc triều vơi. Chòi trông ngao. Người nhặt ngao đấy. Tìm hiểu mới biết rằng giống ngao nuôi ở đây có nguồn gốc từ nước bạn Trung Quốc dân ta nhập về từ năm 1992. Từ đó đến nay ngao trở thành nguồn thu lớn của Nam Thịnh. Chủ tịch xã chị Trần Thị Thủy hồ hởi cho biết : chưa hết năm 2010 dân chúng tôi đã thu hoạch ở bãi triều được 13.500 tấn ngao tính ra tiền là 270 tỉ đồng. Ngao được bán sang thị trường Châu Âu với giá 22.000 đồng/ kg bán qua Trung Quốc theo đường tiểu ngạch ít hơn một chút chừng 20.000 đồng một cân. Không thể không bất ngờ khi biết rằng thu nhập bình quân của người dân Nam Thịnh trong năm nay là 45 8 triệu đồng xã có khoảng 70 gia đình có tiền tỉ. Bảy chục tỉ phú ngao ở một làng quê ven biển Tiền Hải có mấy nơi được thế. Mỗi năm xã thu ngân sách được 5 5 tỉ đồng. Đây là một trong hai xã thị trấn duy nhất của Thái Bình tự trang trải ngân sách không phải nhờ vào nguồn trợ cấp trên. Kinh tế lên kéo theo các mặt khác phát triển. Ba bậc học của xã đều đạt chuẩn quốc gia 6 năm liền Nam Thịnh dẫn đầu Thái Bình về y tế cơ sở 80% gia đình văn hóa. Xã còn nổi danh với đội dân quân tự vệ biển mạnh được huấn luyện quân sự bài bản. Bạn Cu Ba đã về nghiên cứu mô hình tổ chức dân quân tự vệ tại đây.

Ngắm bản đồ hành chính Thái Bình trong phòng khách Tỉnh ủy chúng tôi thấy nó na ná hình con rùa. Con rùa đẻ ra trứng vàng một người nhận xét. Chẳng ngờ câu nói ấy lại là sự bắt đầu cuộc trò chuyện của cánh nhà văn quân đội chúng tôi với bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Hạnh Phúc. Thôi chẳng cần bàn ghế sang trọng nghi thức gì nữa chủ khách đứng bên nhau trao đổi. Nguyễn Hạnh Phúc đứng trước tấm bản đồ Tỉnh không sách vở tài liệu gì hết cứ thế nói vo càng nói càng sôi nổi. Thái Bình có 54 cây số bờ biển thuộc hai huyện Thái Thụy Tiền Hải là một lợi thế lớn. Tương lai Thái Bình được phác thảo ra đầy triển vọng tốt đẹp với cửa Ba Lạt khu dự trữ sinh quyển thế giới ; Cồn Vành khu du lịch sinh thái hấp dẫn ; với thành phố Thái Bình sẽ là thành phố Y Dược có trung tâm chữa bệnh chất lượng cao khi liên kết với Singapo ; với vùng nông thôn mới lấy việc sản xuất giống xuất khẩu làm mũi nhọn ; với 5 khu công nghiệp trong chiến lược lấn biển đang mời gọi đầu tư ; với đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng thủy hải sản dệt may mộc...Liên kết với các tỉnh để làm du lịch là một định hướng của Thái Bình. Có hàng nghìn di tích lịch sử ở Tỉnh trong đó không thể không kể tới chùa Keo và khu đền thờ các vua Trần... Thái Bình từng nổi tiếng với rối làng Nguyễn chèo Đông Hưng. Làng Khuốc từ người già đến trẻ nhỏ đều biết hát chèo. Sáng rối tối chèo nếu khéo tổ chức biết đâu những hình thức văn nghệ dân gian có từ nghìn đời này sẽ thu hút được du khách bốn phương...

Vâng còn nhiều lắm những gian nan trên con đường đi tới tương lai. Và không thể không khắc sâu bài học dân chủ từ vụ việc rối ren ở Thái Bình năm 1997. Nhân dân được làm chủ thực sự đó chính là chìa khóa của sự ổn định và phát triển. Người Thái Bình tài giỏi và nhiệt huyết. Lòng nhiệt huyết như lửa vậy nhưng sự cháy thì không phải bao giờ cũng giống nhau không phải lúc nào cũng hữu ích cho cuộc sống. Không phải ngẫu nhiên mà cụm từ « an ninh nông thôn » lại được nhắc đến trong các cuộc trao đổi của chúng tôi với nhiều cán bộ ở Thái Bình.

Những người lính cầm bút mong cho Thái Bình muôn thuở thái bình và bay lên.

alt

                          

More...

Những nẻo đường Đất Nước: Đưa em lên Đá Chông

By Sinh ở cuối dòng sông

ĐƯA EM LÊN ĐÁ CHÔNG

                                                                Thanh Khê

Không xa mấy trung tâm Hà Nội Đá Chông là lựa chọn của tôi và em trong ngày nghỉ cuối tuần. Sự hấp dẫn của di tích này là cảnh sơn thủy hữu tình gắn với những truyền thuyết câu chuyện về Thánh Tản Viên và Bác Hồ kính yêu của chúng ta.

Nằm trên núi U Rồng thuộc dãy Tản Viên Đá Chông mang vẻ đẹp nguyên sơ tĩnh mịch với những hàng thông xù xì vạm vỡ lá kim vi vút bốn mùa. Xen kẽ là những loài cây gỗ lớn lá rộng có hàng trăm hàng nghìn năm tuổi càng làm tăng thêm nét thâm u cổ kính của cánh rừng nguyên sinh. Đi dưới tán rừng già râm mát em reo lên thích thú khi trông thấy những tảng đá đứng lô nhô sắc nhọn như chông như chà.

“Giống như ai đã từng bày binh bố trận ở nơi này anh nhỉ?”. Em hỏi. “Ừ đúng vậy theo truyền thuyết thì đây là dấu tích của những cuộc đọ sức dữ dội giữa Sơn Tinh và Thủy Tinh thời xa lắc xa lơ. Lòng ghen tuông của chàng Thủy Tinh si tình ghê gớm thật bao nhiêu bão giông mưa lũ cuồn cuộn đổ về đây bao nhiêu thủy quái được điều đến để hòng cướp lại người đẹp từ tay Sơn Tinh ầm ầm ào ào suốt mấy ngày liền và hàng nghìn năm sau vẫn chưa thôi cơn giận dữ. Cuộc chiến vì người đẹp bao giờ cũng bi tráng”. Tôi khẳng định. Cái chất lãng mạn phảng phất trong chuyến đi của tôi và em nhờ những câu chuyện lan man như thế.

Tôi kể thêm với em rằng sông Đà từ Lai Châu cheo leo xa tắp về Hòa Bình xuôi chảy qua làng Khê Thượng khi đến đây đã bất ngờ đổi hướng chuyển dòng lên phía Bắc tạo ra một khúc gãy lạ kỳ để tìm tới ngã ba Bạch Hạc hội tụ với sông Hồng sông Thao tạo thành lưu thủy mênh mang về chầu Đền Hùng mộ Tổ. Chúng thủy giai Đông tẩu / Đà giang độc Bắc lưu. (Các sông đều chảy về Đông / Sông Đà riêng một ngược dòng Bắc lưu). Trong Diễn ca Thánh Tản Viên – Sơn Tinh có viết thế. Quả là một vùng núi sông danh thắng linh thiêng hữu tình.

Đá Chông càng thêm giá trị khi ở đây có thêm di tích K9. Năm 1957 Bác Hồ cùng các đồng chí trong Quân ủy Trung ương đi kiểm tra diễn tập của Sư đoàn 308 khi dừng chân tại đây Người đã nhận ra linh khí trong thế núi hình sông của vùng đất này. Dãy Tản Viên Sơn ở phía Đông dãy Thiết Sơn ở phía Tây lại thêm Đà giang độc đáo liền kề xét theo phong thủy thật là đắc địa cho việc dựng Khu căn cứ. Bác đã quyết định chọn Đá Chông làm “Khu căn cứ địa” để chuẩn bị cho công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước dài lâu của dân tộc ta.

Vẫn còn đây ngôi nhà sàn do chính tay Bác chỉnh sửa thiết kế và chọn hướng đã được khởi công xây dựng vào tháng 5 năm 1958 và hoàn thành vào tháng 3 năm 1960. Ngôi nhà nhìn về hướng Nam xung quanh có nhiều cây cổ thụ râm mát. Tiếp đó là nhà làm việc của Bộ Chính trị Trung ương Chính phủ. Trong xây dựng công trình Bác không cho chặt một cây cổ thụ nào hết. Trước sân nhà Bác cho rải sỏi tự nhiên chứ không đổ bê tông. Vừa hài hòa với cảnh vật vừa dễ phát hiện thú dữ kẻ gian xâm nhập. Các ô cửa sổ đều đặt lưới chống muỗi nhưng vẫn rất thoáng đãng để đón các ngọn gió rừng mát mẻ ùa vào nhà.

Bác đã có 9 năm làm việc tại đây từ 1960 đến 1969. Trong mỗi căn phòng lối đi cành cây ngọn lá tưởng như còn vương vấn tâm hồn Bác. Một lãnh tụ anh minh kiệt xuất của dân tộc cũng là một thi sĩ đau đáu yêu từng ngọn lá mỗi nhành hoa. Sự giản dị đậm đà tinh hoa truyền thống dân tộc và văn minh tương lai nhân loại của Hồ Chí Minh như đang ẩn hiện ở nơi này. Trước ngôi nhà làm việc của Bác có hai cây vàng anh tỏa cành vươn lá xanh biếc. Đó là hai cây lưu niệm do anh hùng vũ trụ Liên Xô (thời ấy) Giécman Titốp và phu nhân của Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai bà Đặng Dĩnh Siêu trồng khi đến thăm Bác.

Điều làm cho cả em và tôi vô cùng xúc động là khi đứng trước ngôi nhà từng là nơi giữ thi hài của Bác những năm kháng chiến chống Mỹ. Từ ngày 23 tháng 12 năm 1969 đến 18 tháng 7 năm 1975 thi hài của Bác được giữ ở đây trong khu rừng Đá Chông nguyên sinh đầy huyền tích kỳ lạ. Không ít những kỷ vật thiêng liêng gắn với 9 năm bằng thời gian cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trước đó Bác làm việc tại Đá Chông này.

Một cuộc hành hương về chốn danh sơn thiêng liêng gắn với tên tuổi công tích sự nghiệp của những vì sao đất nước: Thánh Tản Viên Chủ tịch Hồ Chí Minh. Rời Đá Chông tôi và em vẫn rưng rưng nhiều cảm xúc  trong sáng đẹp đẽ không nói hết thành lời.

alt

Ảnh sưu tầm trên NET

 

More...

Những nẻo đường Đất Nước: Ba Vì Núi Tổ linh thiêng

By Sinh ở cuối dòng sông

BA VÌ NÚI TỔ LINH THIÊNG

Nguyễn Hữu Quý

Nhắc đến xứ Đoài người ta không thể không nói tới núi Ba Vì. Nhất cao là núi Ba Vì / Thứ ba Tam Đảo thứ nhì Độc Tôn. Thực ra so với Tam Đảo cao 1581 mét thì Ba Vì vẫn còn thấp hơn gần ba trăm mét. Nhưng Ba Vì vẫn được xem là “cao nhất” bởi trong tâm thức tâm linh của người xưa đây là nơi ngự của Thánh Tản Viên – Sơn Tinh vị Thần tối linh trong “Tứ bất tử” của tín ngưỡng dân gian Việt Nam. Là người Việt chắc ít ai không biết câu chuyện thần thoại kể về cuộc đọ sức lở đất nghiêng trời của Sơn Tinh với Thủy Tinh. Sơn Tinh đã phải dùng phép thuật nâng cao núi để ngăn lũ dữ trong cơn cuồng ghen của Thủy Tinh vị thần nước si tình bậc nhất vì không lấy được con gái Hùng Vương. Ba Vì “cao nhất” vì lẽ đó nói như Nguyễn Trãi thì Núi ấy là núi Tổ của nước ta (Dư địa chí).

Năm Bính Thân 1836 vua Minh Mạng đã cho đúc Cửu đỉnh làm biểu tượng cho uy thế và sự vững bền của Nhà Nguyễn. Trên Thuần đỉnh (cao 2 32 mét nặng 1950 cân) Minh Mạng cho chạm khắc hình núi Tản Viên vào cùng với hình cửa Cần Giờ và sông Thạch Hãn. Năm Canh Tuất 1850 ông vua thi sĩ Tự Đức xếp Tản Viên vào hàng danh sơn của đất Việt và được ghi vào Tự điển để cúng tế hàng năm. Tản Viên sơn trong mắt của người láng giềng phương Bắc là chiếc đầu Rồng hùng vĩ còn thân của linh vật này không gì khác chính là dãy Trường Sơn trùng điệp chạy dài từ Bắc về Nam. Chuyện xưa còn truyền lại hôm nay rằng: để chế hãm nước Nam không phát được Vương vua Nhà Đường đã cử vị tướng kiêm phù thủy Cao Biền dùng thuật pháp đào trăm giếng bao quanh chân núi Ba Vì hòng trấn yểm và triệt diệt long mạch nước ta. Nhưng vì oai linh của Thánh Tản Viên nên mưu xấu của người phương Bắc không thành giếng nào đào sắp xong cũng đều bị sập. Việt Nam thời nào cũng có hiền tài văn hiến vững bền muôn thuở.

Núi Tổ Ba Vì có Châu hình đẩu tiễn thiên hoành không / Hạo khí quan mang vạn cổ tồn ( Dáng hình sừng sững ngang trời rộng / Hạo khí mênh mang vạn thuở còn) như đôi câu đối ở Đền Và nơi thờ Thánh Tản Viên. Cảnh vật chốn này vừa hùng vĩ vừa bao la vừa thơ mộng. Hùng vĩ bởi Ba Vì sừng sững làm trấn sơn cho cả nước. Bao la bởi vùng đồng bằng mỡ màu điểm xuyết những gò đồi thấp thoải. Thơ mộng bởi những dòng sông con suối rừng cây làng mạc êm ả vây quanh. Nhiều danh lam thắng cảnh quây tụ về đây như Ao Vua Khoang Xanh – Suối Tiên Thác mơ Thác Đa Thác Ngà Thác Hương núi Đá Chẹ rừng thông Đá Chông hồ Suối Hai hồ Đồng Mô hồ Tiên Sa đồi cò Ngọc Nhị…Đường lên núi Tản quanh quanh đỉnh non cây cối bảng lảng trong mây vờn sương phủ thật huyền ảo.

Du khách đến Ba Vì trong một hành trình du lịch thắng cảnh văn hóa tâm linh nhiều thú vị. Khí hậu núi Ba Vì mát mẻ trong lành chẳng khác mấy Đà Lạt Sa Pa rất phù hợp với việc nghĩ dưỡng leo núi đi bộ. Không gian tĩnh mịch êm đềm tạo cho ta những khoảng lặng đáng yêu trong cuộc sống vốn rất nhiều ồn ả xô bồ như hiện nay. Ta có thể tận mắt thấy hàng chục loài cây quý hiếm đang có mặt ở Ba Vì như bách xanh thông tre sến mật giổi lá bạc bát giác liên hoa tiên râu hùm sam bông ba gạc…Sườn Tây núi Tản Viên còn sót lại hàng chục cây bách xanh cổ thụ có độ tuổi hàng thiên niên kỷ.

Đứng trên vời vợi Ba Vì ta thêm dịp ngẫm nghĩ về vị thế non sông về những huyền tích dựng nước giữ nước của dân tộc trong suốt mấy nghìn năm lịch sử thăng trầm dâu bể. Trên và quanh Ba Vì xưa cổ có rất nhiều đền đình linh thiêng như các Đền Trung Đền Hạ Đền Thượng Đền Đá Đen Đền Và Đền Măng Sơn Đền Khánh Xuân Đền Vật Lại đình Yên Nội đình Tây Đằng đình Mỗ Lao đình Quất Động đình Đông Viên đình Quang Húc đình Phú Thứ đình Thanh Hùng đình Thụy Phiêu…thờ Thánh Tản Viên .Đền thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng là một nơi linh thiêng được nhiều người đến viếng thăm hương khói. Ngôi đền thờ Bác do kiến trúc sư nổi tiếng Nguyễn Trực Luyện thiết kế mang phong cách cổ hai tầng tám mái đao cong nhìn về hướng Nam nằm ở độ cao 1296 mét tại đỉnh Vua.

Gắn liền với tên tuổi công tích của Thánh Tản Viên – Sơn Tinh núi Ba Vì thật xứng danh là núi Tổ của Đất Việt. Con cháu muôn đời về đây nơi Ba Vì cao ngất tầng mây để tưởng vọng tới Tản Viên sơn thần / Đệ nhất phúc đẳng thần / Đệ nhất bách thần / Thượng đẳng tối linh thần / Nam thiên thánh tổ vốn là vị anh hùng dân tộc có công chống thiên tai chống giặc ngoại xâm khai sáng văn hóa liên kết các bộ tộc Việt – Mường của non sông Việt Nam.

alt

Thác Dải Yếm

Ảnh st trên NET

 

 

More...

Cụ Rùa và lũ tai đỏ

By Sinh ở cuối dòng sông

CỤ RÙA VÀ LŨ TAI ĐỎ

Tản văn Nguyễn Hữu Quý

Nghe tin Cụ Rùa Hồ Gươm đã được đưa vào bệnh viện thông minh để chữa trị nhiều người dân hỉ hả vui mừng. Tôi cũng thế không có điều kiện ra Bờ Hồ xem trực tiếp cảnh đưa Cụ vào nơi điều trị nhưng đọc trên mạng biết tin cũng thở phào nhẹ nhõm. Có điều gì đó không nói ra hết không giải bày đầy đủ được về tình cảm của chúng ta đối với Cụ. Dù như ai đó đã viết trên một tờ báo mạng nổi tiếng đại ý rằng: rùa Hồ Gươm cũng chỉ là một sinh vật thôi cũng sinh lão bệnh tử như mọi sinh vật khác vì thế chuyện ốm yếu của nên xem bình thường. Đúng rất đúng nếu nhìn bằng con mắt duy vật nhưng ngẫm kỹ thì chưa phải nếu không muốn nói là hồ đồ thô thiển.

Này nhé đứng trước tượng đài một vị anh hùng hay danh nhân của dân tộc không ai nghĩ rằng mình đang đứng trước một vật vô tri vô hồn vô nghĩa cả. Ít ai ngạo mạn nghĩ rằng: có gì đâu đó cũng chỉ là khối bê tông hay kim loại đúc nên mà thôi. Sau tượng đài Phù Đổng Thiên Vương là cả một truyền thuyết cảm động hào hùng về Thánh Gióng và người mẹ chân đất áo vá cấy lúa trồng cà nuôi con đánh giặc cứu nước. Sau tượng đài Trần Hưng Đạo là âm vang Hịch tướng sỹ từ thế kỷ 13 với những lần chiến thắng giặc Nguyên Mông hung bạo. Cũng thế ngắm tượng đài Nguyễn Trãi ta không thể quên Bình Ngô đại cáo của Người cũng như ngậm ngùi xót xa nghĩ tới oan án Lệ Chi Viên hơn sáu trăm năm về trước. Tượng Nguyễn Du đấy là hồn vía của một đại thi hào viết nên Truyện Kiều bất tử từ những điều trông thấy mà đau đớn lòng của nhân gian của những kiếp phận long đong chứ đâu chỉ là khối bê tông đúc thành…Tám vệt mây trắng hiện trên bầu trời Đền Đô cũng gợi nhắc tới cuộc vân du của tám vị Vua thời Lý lừng lẫy. Một cánh bướm đậu lên trên bàn thờ Tổ tiên đúng ngày giỗ trọng cũng làm cho ta run rẩy nghĩ tới bao điều. Biết đâu đấy là sự hiển linh của người đã khuất. Ẩn sâu trong cảm xúc ấy là tâm linh những điều khó giải thích được tới ngọn ngành thấu triệt bằng kiến thức đương đại. Mà cũng đừng lý giải làm gì đó là phần sâu nhất khuất nhất và cũng kỳ diệu nhất của con người của thế giới này.

Cụ Rùa dân Việt gọi như vậy cảm nhận như vậy tôn vinh như vậy bởi “sinh vật” ấy gắn liền với câu chuyện mượn - trả kiếm của người anh hùng Lê Lợi với Thần Kim Quy. Không phải ngẫu nhiên mà Hồ Gươm được coi là nơi hội tụ khí thiêng của nghìn năm Thăng Long – Hà Nội của dải non sông mang dáng Rồng bay này. Gọi Cụ Rùa chính là  tôn vinh truyền thống yêu nước ý chí quật cường của dân tộc đã từng nếm mật năm gai hòa nước sông chén rượu ngọt ngào tướng sĩ một lòng phụ tử để đánh tan giặc xâm lăng. Đó chính là bóng dáng của lịch sử còn lưu lại hôm nay thực ảo quyện hòa nhau trong tâm thức dân tộc đồng bào.

Có thể sau này Cụ Rùa không còn nữa nhưng ánh hào quang lịch sử ấy vẫn thấp thoáng Hồ Gươm như sự linh thiêng không bao giờ tắt lịm. Một linh vật gắn bó với Hồ Hoàn Kiếm hằng mấy thế kỷ như vậy đã vượt qua khái niệm một thực thể bình thường rồi. Hiện tại và mai sau đó vẫn là sự thiêng liêng mà dân tộc Việt này tôn vinh kính trọng. Nhân dân ta nhìn Cụ bằng tấm lòng bằng trái tim chứ không phải là bằng đôi mắt trần trụi bằng bộ óc sặc chữ.

Bao nhiêu người lo lắng khi Cụ ốm. Không thể không đau xót khi thấy Cụ chìm nổi ngoi ngóp trong lòng hồ bị ô nhiễm mai móng bị tấy đỏ bấy bớt do nước bẩn và bị lũ rùa tai đỏ gặm nhấm. Lũ rùa tai đỏ là sinh vật ô tạp tham lam phàm ăn tục uống. Nó đáng bị lên án bị xử lý bị trừng trị đích đáng như những tên phá hoại xâm lăng. Lũ tai đỏ đã len lách mọi nơi trên đất nước này và chúng đã có mặt ở Hồ Gươm lặng lẽ tấn công gặm mòn linh vật của ta. Chao ôi chuyện hôm nay chuyện của thế kỷ 21 mà cứ như là chuyện ngày xửa ngày xưa thuở Cổ Loa thành vừa mới được dựng lên chưa khô bùn đất. Cái thời Mỵ Châu còn mười tám xuân xanh ấy ấy…Những nẻo xa vời trắng màu lông ngỗng trắng nỗi bi thương vết chém ai oán còn rưng rức thiên thu.

Nhìn cái thứ sinh vật ngoại lai này tràn ngập muôn nơi và bơi lội trong Hồ Gươm lòng ai chẳng trỗi lên một điều gì đấy vừa mơ hồ vừa rõ rệt về sự chẳng lành của cuộc sống hôm nay. Sự ô uế đang lan ra? Khí vận suy vi cạn kiệt? Lòng người phân rẽ ly tán? Trách kẻ mông muội “rước” cái lũ tai đỏ về đất Việt mình về Hồ Gươm mà không tính được lợi hại trước sau. Trước đây đã khốn khổ vì bè lũ ốc bươu vàng nay lại mệt mỏi vì bầy rùa tai đỏ. Hết ốc đến rùa hết vàng đến đỏ lũ tàn sát bức tử môi trường được du nhập vào nước ta bằng con đường nào bởi những kẻ nào hình như chưa ai chỉ rõ. Chỉ biết bây giờ ta phải hứng chịu tai họa khôn lường.

May mà ta phát hiện kịp để còn nghĩ cách trừng trị loại bỏ cái lũ sinh vật xâm lăng vô cùng nham hiểm này.

Những vết thương vì lũ tai đỏ gặm cắn trên mai trên móng Cụ Rùa chính là một cảnh báo kịp thời cho chúng ta đó. Chịu đựng đớn đau Cụ đã báo động cho ta biết sự nguy hại của lòng tham mang tên rùa tai đỏ. Hãy cảnh giác. Đừng u mê nữa. Có những mối nguy đang rình rập kề bên chúng ta.

Tôi tin Cụ Rùa sẽ thoát bệnh Hồ Gươm trở lại trong lành. Khí vận vằng vặc dạt dào. Nước thịnh. Dân an. Lũ tai đỏ chỉ còn là câu chuyện cổ tích của dân chúng rằng: những năm đầu thế kỷ 21 ở Hồ Gươm có một loài vật tặc…định “chén” Cụ Rùa…nhưng…cuối cùng bị tiêu diệt sạch sành sanh…

                                                                                                                                Đồng Xa ngày 4/4/2011

alt

Hà Nội Đền Ngọc Sơn thời xưa cổ

Ảnh st trên NET

More...

Sụp đổ...Sụp đổ...Hãy coi chừng!

By Sinh ở cuối dòng sông

Lăng kính của Tui:

SỤP ĐỔ...SỤP ĐỔ…HÃY COI CHỪNG

Thanh Khê

Không có độ Ríchter nào.

Không có đợt sóng thần nào.

Thế mà vẫn sụp đổ.

Tòa nhà 5 tầng sơn màu đỏ sẫm tọa lạc trên đường Huỳnh Thúc Kháng giữa Thủ đô Hà Nội nhộn nhịp và bụi bặm như một đại công trường tự nhiên lắc lư và sụp đổ. Ơn Trời may mà không có ai trong đó may mà cái nhà hàng ăn nhanh này chưa khai trương nếu không đất nước mình sẽ trắng thêm mấy chục vành khăn tang nữa.

Sau đôi ngày núi Lèn Cờ ở Nghệ An bị sụp đổ đè lấp hàng chục con người nghèo khổ đi làm thuê cho chủ mỏ đá mang danh giám đốc một công ty TNHH và trên chục thạch phu phải lìa đời bỏ lại nhiều khốn khó nheo nhóc trần gian.

Tai họa. Tai nạn. Những ngôn từ ấy chắc chắn sẽ được nhắc lại nhiều lần vô số lần khi người ta nói viết về vụ việc và cả trong các biên bản tường trình hồ sơ thụ lý của các cơ quan chức năng.

Sau những ngôn từ khô khốc vô cảm ấy là gì? Máu đổ xương tan thịt nát. Mạng sống của những dân đen bị cướp đi oan uổng. Tang tóc đổ xuống những gia đình khốn khó. Rồi con cái họ biết đâu sau tai họa này phải bỏ học đi làm thuê sớm thậm chí phải thất thểu đầu đường xó chợ ăn xin. Trước cảnh ngộ ấy dân lành chỉ biết ngửa mặt kêu trời và ngầm ngùi lý giải an ủi theo cái cách rất truyền thống là “do số phận cả”. Bắt phong trần phải phong trần/ Cho thanh cao mới được phần thanh cao như cụ Nguyễn Du từng chiêm nghiệm.

Nếu tất cả cứ đổ tại đấng cao xanh thì chắc không có chi phải lăn tăn trăn trở nữa. Và người ta cũng cứ thế làm ngơ trước thực trạng nói nhiều làm ít hoặc nói mà không làm như hiện nay. Rõ ràng rõ ràng như hai cộng hai bằng bốn là tai họa tai nạn kiểu này không phải ít ở nước ta trong mấy năm gần đây. Trong xây dựng thì nhà xây không phép xây sai phép nhà cơi nới sửa chữa vô tội vạ nhà siêu méo siêu mỏng siêu quái…không hiếm ở nhiều nơi mà Hà Nội là điển hình tiêu biểu. Mấy lần mỏ đá hầm đất đã sập vùi thây bao người. Rồi luôn đây cũng kể luôn các vụ ô tô đâm đầu vào tàu hỏa tàu hỏa húc bẹp dúm ô tô. Những vụ chìm đò ngang chìm tàu du lịch thấm đẫm nước mắt tang thương.

Mạng người chao ôi sao nó vẫn bị coi thường đến thế cứ bèo bọt rẻ rúng muôn phần. Người ta không thể không đặt câu hỏi về vai trò kiểm tra giám sát của những cơ quan cá nhân có trách nhiệm trong các vụ việc này. Công tác đảm bảo và kiểm tra an toàn lao động ra sao mà  để cho hàng chục người chui vào cái “bẫy” chết người của lèn đá như thế? Công tác cấp phép và giám sát xây dựng đô thị thế nào mà để cho sự cơi nới sửa chữa nhà cửa tùm lum như vậy. “Đội ngũ” nhà siêu méo siêu mỏng siêu quái ngày thêm đông đảo một phần do ai? Những lối đi cắt ngang đường sắt đã đủ biển báo chưa? Cần thiết phải dựng ở những “điểm đen” đó cái ba ri e có người gác tuy tốn kém nhưng lại bảo đảm an toàn cao không?

Những vụ mất an toàn ấy phải được xem xét nhìn nhận mổ xẻ dưới góc độ quản lý xã hội. Có như vậy thì người quản lý xây dựng quản lý lao động quản lý giao thông mới nêu cao trách nhiệm để làm việc đến nơi đến chốn. Hãy tự trách mình trước các vị ạ và phải thành tâm sửa chữa nếu không tai họa còn diễn ra nhiều nhiều nữa sự sụp đổ sẽ không dừng lại ở đó. Lối làm việc tắc trách của các vị sẽ làm cho những lỗ hổng xã hội càng lở lói rộng thêm và kết cục ra sao thì không nói ra chắc ai cũng biết. Nếu có lúc nào đó vì vị nể vì phong bì phong bao các vị bỏ qua lờ đi những sai phạm thì xin các vị hãy nhớ cho nó có thể gây ra tai họa đấy. Sụp đổ đôi khi bắt đầu từ những việc cho qua như thế. Tôi không nói quá đâu nhé. Nếu công tác quản lý xây dựng đô thị nghiêm túc thì làm sao cái nhà bị đổ ở Huỳnh Thúc Kháng ấy sau khi sửa chữa lại trên to hơn dưới? Nếu công tác an toàn lao động được quan tâm đúng mức thì người ta không điên mà cho hàng chục phu đá làm việc sát chân lèn sững sừng chênh vênh như vậy? Hao người tốn của đã nhãn tiền. Lòng dân ai oán bất tin mới là tai họa lớn nhất cho đất nước.

Nền móng vững thì công trình mới chắc. Cái nền móng luật pháp và đạo đức của ta có vẻ như còn rất yếu. Phải bồi đắp gia cố thêm nhiều nếu như muốn trụ vững dài lâu. 

alt

Rừng bị mất màu xanh

Ảnh st trên NET

More...

Cát làng

By Sinh ở cuối dòng sông

CÁT LÀNG

Tản văn Nguyễn Hữu Quý

Tôi sinh ra ở cuối một con sông lớn của Quảng Bình nơi mỗi cuộc đời của người dân làng tôi đều bắt đầu và kết thúc từ cát. Nhúm rau sơ sinh chôn vào cát và cát đón người trở về sau khi họ đã trút hơi thở cuối cùng trên thế gian. Những hạt cát bé li ti và thô tháp thế mà khi quần tụ lại là thành cồn thành bãi tiếp tiếp nối nối nhau không dứt ở bốn phía làng tôi.

Cát trắng. Cát làng tôi thật trắng. Có lẽ bởi vì thế mà nắng làng tôi chang chang và trăng làng tôi vằng vặc hơn mọi vùng quê khác chăng.

Tôi nhớ mùa hè chân trần băng qua cát chẳng khác gì đi trên than nóng. Nắng hừng hực như dội lửa xuống những cồn cát thưa thớt bóng cây gần xa chỉ xùm xòa đôi bụi phi lao cằn và mấy khóm hoa tứ quý màu hồng thắm rung rinh trong gió nóng. Những chiếc dép mo cau của vùng cát nghèo khó thời xa xôi ấy tôi cũng chưa bao giờ quên. Cái mo cau khô được cắt ra thành từng miếng hình chữ nhật sao cho vừa với cỡ chân mình rồi xỏ dây vào làm quai thế là thành dép. Những đôi dép mo cau tự tạo rất thô sơ đó vừa nhẹ vừa tiện lợi khi đi qua cát nóng.

Tôi lại nhớ tới những con đường trên cát. Đó là con đường riêng của mỗi người nói chính xác hơn dấu chân của họ để lại trên cát thành đường. Những con đường như thế thường có tuổi đời rất ngắn. Nó sẽ không tồn tại sau một trận gió lớn. Gió lào gió bấc thậm chí cả gió nồm đều có thể khỏa lấp hết những dấu chân trên cát. Và thế là con đường của họ cũng mau chóng hòa lẫn vào cát trắng miên man.

Dắt tôi đi qua cát mạ nói: chẳng có nơi mô khoai lang bùi như khoai làng miềng. Thương sao thương lạ những củ khoai lang dỡ ra từ các luống cát ven sông Linh Giang luộc lên bẻ đôi ra bột trắng như nếp và thơm nắc nỏm. Thứ khoai lang luộc ấy phải ăn kèm với canh bầu nấu cá nục mới khỏi bị nghẹn. Dân tôi nói trạng: ăn khoai làng miềng phải ôm cột nhà mà nuốt và nhớ đeo kính râm để tránh bụi bay vô mắt.

Đã có lần tôi vin vào câu mạ hát “Khoai lang đất cát vừa ngon lại bùi” để thủ thỉ với em rằng cát không khắc kiệt cỗi cằn bạc bẽo như ai từng chê đâu. Giữa lòng cát có những mạch nước rất trong rất ngọt. Những mạch nước nuôi cây nuôi người ẩn khuất ở các tầng nông sâu khác nhau lặng lẽ chảy âm thầm chảy ở dưới nền làng. Lặng lẽ âm thầm tồn tại và tỏa lan trong cát.

Tôi trở lại với những cái giếng nông choèn nhưng lúc nào cũng săm sắp nước ngọt bên chân sóng mặn. Ta múc nước lên không phải bằng gàu mà bằng những chiếc gáo dừa. Chợt nhớ…

Cô bạn tuổi thơ láng giềng của tôi ngày ấy. Bây giờ em đã con bế con bồng. Nuối tiếc gì nữa đây mà tôi thẩn thờ mang theo nỗi buồn dìu dịu về với cái giếng nông choèn bên chân sóng ngồi với bóng hình của cô bé ngày xưa; cô bé sinh năm Hợi có khuôn mặt trái xoan đôi mắt lá răm lay láy túm tóc đuôi gà hoe hoe miệng ngậm bông hoa tía tô đỏ tím. Một con chuồn chuồn kim gầy mảnh như bay ra từ giấc mơ chiều đậu xuống búi cỏ lông chông đang được nằm yên trên cát khi trời vắng gió. Có lẽ cũng khá lâu rồi hôm nay tôi lại uống ngụm nước lã ở cái giếng nông choèn này. Nước vẫn ngọt vị ngọt của cát cô bé ạ!

Xa xa là nghĩa trang của làng. Những ngôi mộ cát là là. Chao ôi những ngôi mộ cát cứ thấp dần đi sau những trận gió lào bão đông nom nhỏ bé và mong manh làm sao giữa mang mang cát trắng. Tôi thương không nói hết những nấm mộ được đánh dấu bằng những khóm dứa dại đầy gai nhọn những bụi xương rồng xứ cát. Đó là mộ của kẻ khó những dòng họ nghèo. Còn những gia đình khá giả những dòng họ sung túc thì phần mộ của người đã khuất đều được xây dựng vững chãi và thật màu mè. Làng của người sống chia hai dạng giàu nghèo thì « làng » của người chết cũng vậy mà có những phần mộ cao thấp lớn bé xấu đẹp khác nhau.

Chỉ cát là trắng như nhau. Người sống sống trên cái nền trắng của cát.Người chết cũng nằm trong màu trắng muôn đời ấy của làng. Cát trắng. Trắng vào ngày. Trắng vào đêm. Trắng trong nắng. Trắng trong mưa. Trắng cho những người đang sống và trắng cho cả những ai đã mất. Cái màu trắng ấy là nỗi bịn rịn thấp thoáng trong ký ức của tôi suốt những năm tháng xa quê.

Cát trắng ấy vừa là cát vừa là hồn của xóm của làng ; nó từng chứng kiến muôn vàn thăng trầm bão giông của thế cuộc những cuộc chiến tranh dài dằng dặc. Cát trắng ấy thấm biết bao mồ hôi máu nước mắt của dân làng tôi trong chật vật mưu sinh và kiên cường đánh giặc.

Đi đâu về đâu trong tôi vẫn thầm thì tiếng cát cuối dòng Linh Giang...

alt

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

More...

Sen xứng đáng làm Quốc hoa

By Sinh ở cuối dòng sông

 

SEN XỨNG ĐÁNG LÀ QUỐC HOA

Khó hơn vạn vạn lần thi hoa hậu khi bình chọn Quốc hoa. Bởi ta là nước đi sau so với một số quốc gia trên thế giới đã làm việc này do đó tâm lý sợ "đụng hàng" cũng là dễ hiểu. Có loài hoa ta thích thì nước bạn đã chọn rồi liệu khi mình tôn vinh sợ bị mang tiếng là bắt chước không.

More...

Thành phố bên sông Thương

By Sinh ở cuối dòng sông

 

THÀNH PHỐ BÊN SÔNG THƯƠNG

                                                     

Với tôi hình như đã có một chút sông Thương trong miên man xa vắng. Không phải cho đến hôm nay trong vời vợi đêm Kinh Bắc cùng em bước trên bờ đê lộng gió "cái" sông Thương nước chảy đôi dòng ấy mới nao nao trỗi dậy giữa lòng. Lâu rồi thời đạn bom dữ dội nơi tuyến lửa Quảng Bình trong căn hầm chữ A tôi đã từng bâng khuâng nghe một anh bộ đội đi B (vào Nam chiến đấu) hát "trộm" ca khúc Con thuyền không bến của Đặng Thế Phong. Lướt theo chiều gió một con thuyền. Theo trăng trong trôi trên sông Thương. Nước chảy đôi dòng biết đâu bờ bến. Thuyền ơi thuyền trôi nơi đâu. Trên con sông Thương nào ai biết nông sâu? Nỗi sông hay nỗi người đây mà dằng dặc trôi đi cùng năm tháng những trữ tình Bắc Giang chẳng nhòa phai không dễ gì nói hết. Bên trong bên đục em trông bên nào? Không dễ gì giải bày thấu tỏ hết trong-đục của sông của đời đâu; muôn năm vẫn cứ dúng dắng dùng dằng mãi mãi vẫn cứ bâng lâng níu náu để cái sự lỡ làng dang dở ngày mỗi vằng vặc thêm bên nước chảy đôi dòng. Bên em còn một sông có tên gọi là Thương dẫu bây giờ hình như chẳng nửa đục nửa trong nữa thế là đủ.

More...