Chúc Mừng Năm Mới

By Sinh ở cuối dòng sông




Nhân dịp Xuân Tân Mão 2011

CHÚC ANH CHỊ EM BÈ BẠN GẦN XA 
MẠNH KHỎE VUI TƯƠI AN LÀNH MAY MẮN THÀNH CÔNG.
Nguyễn Hữu Quý


 
THÁNG GIÊNG
(Thơ lì xì)

Tháng Giêng tôi nhớ dịu dàng

sầu đông chưa tím nắng vàng đang non

tháng Giêng rét mướt vẫn còn

còn ai đan áo mắt mòn chân mây?


Tháng Giêng mưa lẫn vào cây

cây thơm vào tóc tóc bay vào mùa

Hội làng kẻ đón người đưa

dịu dàng tôi đợi sao chưa thấy về?


Lộc cài thăm thắm duyên quê

tháng Giêng cái tuổi cặp kề dung dăng

gió lành đã nhú mầm trăng

trúc xanh tìm bạn qua làn sương mơ.


Tháng Giêng ngõ vắng tôi chờ

tóc buông lưng lửng nón hờ trên tay

chiều chiều thắc thỏm gió may

lòng quê thắm ngọn trầu cay mẹ dành.


Tàu cau sao vội giật mình

dịu dàng tôi đợi vô tình tháng Giêng!

More...

Tôi có ý kiến:

By Sinh ở cuối dòng sông

 

THÔN QUYẾT THẮNG

CẦN CÓ MỘT TƯỢNG ĐÀI

THANH NIÊN XUNG PHONG

Nguyễn Hữu Quý


Xã Thanh Trạch một vùng quê sơn thủy hữu tình nằm ở cuối dòng sông Gianh lịch sử. Trong những ngày chiến tranh chống Mỹ ác liệt mảnh đất này được mệnh danh là Lũy thép nam sông Gianh của quê hương Hai giỏi Quảng Bình. Cảng Gianh là nơi xuất phát của những chuyến tàu không số đầu tiên; những người lính quả cảm dưới tấm áo ngụy trang của Tập đoàn đánh cá Thanh Khê đã âm thầm vượt bão gió ra khơi đưa vũ khí vào Nam. Đây cũng là nơi diễn ra cuộc đọ sức ác liệt đầu tiên giữa những con tàu chiến bé nhỏ của hải quân ta với máy bay phản lực hiện đại của giặc Mỹ vào ngày 5 tháng 8 năm 1964. Cảng Gianh phà Gianh cầu Khe Nước cống Mười quốc lộ 1A đèo Lý Hòa...là những địa danh nổi tiếng khốc liệt trong cuộc đọ sức với chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ở miền Bắc. Những địa danh ấy nhiều bạn bè gần xa đã biết tới nhưng có một nơi thuộc xã này ghi dấu sự hi sinh to lớn của thanh niên xung phong (TNXP) tôi tin nhiều người chưa tường tận. Đó là thôn Quyết Thắng nơi 156 thanh niên xung phong và công nhân cảng Gianh đã ngã xuống trong trận oanh tạc của máy bay Mỹ vào ngày 13 tháng 1 năm 1973.


Dẫu sự kiện đã lùi xa 36 năm nhưng ngày bi tráng ấy không bao giờ phai trong hồi ức của những người dân Thanh Trạch đã từng chứng kiến và nó còn được kể lại cho các thế hệ trẻ hôm nay. Đấy là một ngày đầu xuân; chỉ còn ít hôm nữa thôi Hiệp định Pa ri về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam sẽ được ký kết. Cảnh Một trời êm ả xanh không tưởng / Mặt đất bình yên giấc trẻ thơ với miền Bắc như nhà thơ Tố Hữu viết sẽ thành hiện thực. Như thường ngày đơn vị thanh niên xung phong Cù Chính Lan cán bộ công nhân cảng Gianh - Đoàn 309 làm nhiệm vụ bốc vác vận chuyển hàng hóa từ các tàu thuyền vào kho chuẩn bị cho đợt chi viện mới vào miền Nam trong dịp đình chiến sắp tới. Từ tinh mơ máy bay trinh sát phản lực Mỹ đã quần đảo trên bầu trời xã Thanh Trạch để tìm mục tiêu và thay nhau ném bom bắn rốc - két đạn 20 ly xuống cảng Gianh bến phà 1 bến phà 2 đồn biên phòng...Chúng muốn tìm phá các kho hàng hóa và chặn các nẻo đường giao thông của chúng ta qua vùng đất này. Đến 8 giờ sáng nhiều tốp máy bay F4H F105 tập trung ném bom xuống cầu Cống Bốn Cống Mười hòng cắt đứt đường quốc lộ 1A đoạn qua xã Thanh Trạch. Đã có mấy loạt bom tạ bom sát thương bay chệch vào thôn Quyết Thắng làm cho một số hầm bị sập dân bị chết bị thương. Sau 4 giờ bắn phá ác liệt trên diện rộng máy bay Mỹ rút đi. Kẻng báo yên vang lên các đơn vị công tác ở cảng Gianh dân quân tự vệ cấp tốc chuyển người bị thương từ nơi bị máy bay Mỹ oanh tạc về cấp cứu tại trạm y tế dã chiến đóng ở xóm Dừa ( HTX Quyết Thắng). Đây cũng là lúc các TNXP công nhân Cảng tranh thủ về bếp tập đoàn ăn cơm trưa chuẩn bị sức lực và tinh thần cho đợt bốc vác vận chuyển hàng hóa chiều và tối nay. Mặc dầu vừa trải qua mấy tiếng đồng hồ đối mặt với bom đạn giặc nhưng không ai nao núng chùn bước. Xóm Làng và xóm Dừa là nơi trú quân của đơn vị TNXP Cù Chính Lan công nhân cảng Gianh bộ đội xăng dầu thuộc binh trạm 16...Trong lúc nhiều thương binh đang được băng bó cấp cứu TNXP công nhân Cảng đang bưng bát cơm trên tay thì bất ngờ ánh chớp nhoáng nhoàng khói bụi mù mịt đất trời đảo lộn đêm ngày như xáo trộn vào nhau. Một tốp máy bay F4H đã cắt bom xuống Cống Mười và thôn Quyết Thắng. Chúng đã có tính toán bom tạ ném xuống cầu đường và bom sát thương thả vào vùng dân cư. Sau loạt bom man rợ một cảnh tang thương rùng rợn hiện ra trên vùng đất Quyết Thắng. Xóm thôn trước kia tre trúc chuối mít rậm rạp giờ đây xác xơ trơ trụi cành ngọn gãy gục tơ xướp ám đầy khói bom. Trên các cành tre cháy sém là từng mảnh thịt núm ruột cánh tay khuỷu chân mảnh quần manh áo bết máu của anh chị em ta. Nhiều thi thể không còn nguyên vẹn trong đó không ít cô gái trẻ. 156 TNXP cán bộ công nhân cảng Gianh đã hi sinh trong trận oanh tạc đẫm máu này của máy bay Mỹ. Cũng xin nói thêm dù đau thương đến tột cùng trước sự mất mát bất ngờ này nhưng chỉ sau 2 giờ các đồng chí TNXP công nhân Cảng cán bộ đảng viên dân quân xã Thanh Trạch đã cấp cứu người bị thương chôn cất người chết chu toàn. Và chiều tối đó thì những gói hàng chi viện cho miền Nam thân yêu vẫn được các chiến sĩ TNXP công nhân Cảng bốc vác vận chuyển sơ tán vào các kho đúng như kế hoạch.


Chi bộ Chi hội cựu chiến binh Chi hội cựu TNXP và các tổ chức đoàn thể thôn Quyết Thắng ( xã Thanh Trạch huyện Bố Trạch tỉnh Quảng Bình) đã lập tờ trình đề nghị xây dựng tượng đài TNXP ở nơi các anh chị đã ngã xuống trong ngày 13 tháng 1 năm 1973. Đó là ngã tư đường từ quốc lộ 1A vào thôn Quyết Thắng.  Tờ trình có đoạn viết: Tượng đài là nơi tưởng niệm tri ân các liệt sỹ thương binh và nhân dân đã hy sinh xương máu và một phần thân thể vì sự nghiệp chống Mỹ cứu nước của dân tộc...Đồng thời tượng đài như một tấm bia căm thù một chứng tích tố cáo tội ác chiến tranh của đế quốc Mỹ.. Tình cảm và ý nguyện của cán bộ và nhân dân thôn Quyết Thắng đã rõ. Sự hy sinh anh dũng của 156 TNXP đơn vị Cù Chính Lan cán bộ công nhân Cảng Gianh trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước xứng đáng được ghi công bằng một tượng đài linh thiêng tại thôn Quyết Thắng.

                                                                      

More...

Người gióng lên những hồi chuông màu đỏ

By Sinh ở cuối dòng sông

 

      

NGƯỜI GIÓNG LÊN

NHỮNG HỒI CHUÔNG MÀU ĐỎ             

Những hồi chuông màu đỏ là tập thơ và trường ca viết về liệt sĩ thương binh của Nguyễn Hữu Quý. Cuốn sách như một tuyển nhỏ gồm 28 bài thơ trường ca Sinh ở cuối dòng sông và trích đoạn trường ca Vạn lý Trường Sơn. Trong đó có nhiều bài thơ đã dành giải thưởng văn chương cao trong nước như: Bông huệ trắng (Tặng thưởng thơ hay nhất Văn nghệ quân đội 1995) Khát vọng Trường Sơn (Giải nhì-không có giải nhất cuộc thi thơ Văn nghệ quân đội 1996) Cơn mưa rừng chiều nay (Giải nhì-không có giải nhất cuộc thi thơ Tạp chí Cửa Việt năm 1997) Có một Hà Nội ở Trường Sơn  (Giải ba cuộc thi thơ báo Người Hà nội 2005-2006) trường ca Sinh ở cuối dòng sông (Giải thưởng Văn học Bộ quốc phòng 1999-2004). Bài thơ Khát vọng Trường Sơn đã được 3 nhạc sĩ Phạm Tuyên Võ Thế Hùng Văn Chừng phổ nhạc thành ba bài hát cùng tên. Bài Trường Sơn tóc dài cũng được nhạc sĩ Trương Tuyết Mai phổ nhạc gần đây.

Người nặng lòng với Trường Sơn hùng vĩ.

Không phải ngẫu nhiên mà Đại tá Ngô Vĩnh Bình - Phó Tổng biên tập Tạp chí Văn nghệ Quân đội lại nói trong bài viết Mang cả Trường Sơn về Nhà số 4 rằng: nếu như nói Phạm Tiến Duật là nhà thơ của Trường Sơn hôm qua thì cũng có thể bảo Nguyễn Hữu Quý là nhà thơ của Trường Sơn hôm nay. Thật vậy! Khi đọc Những hồi chuông màu đỏ ta nhận thấy rằng không phải ai cũng dành nhiều tâm huyết và tình cảm cho Trường Sơn như Nguyễn Hữu Quý. Một nhà thơ đã từng hơn ba mươi năm khoác áo quân nhân trong đó có gần 20 năm là lính Trường Sơn nên  những trang viết của Nguyễn Hữu Quý in đậm dấu ấn và tấm lòng đối với vùng đất hùng vĩ này.

Trong Những hồi chuông màu đỏ  thì Khát vọng Trường Sơn là một bài thơ xúc động đầy sức mạnh gợi mở làm sống dậy một thế giới Trường Sơn kỳ tích hào hùng với những nỗi đau sâu thẳm và khát vọng bao la... Khát vọng Trường Sơn  viết dâng hương hồn 10.000 liệt sĩ ở Nghĩa trang Trường Sơn với những câu thơ bi tráng: Nằm kề nhau / Những nấm mộ giống nhau / Mười nghìn bát hương / Mười nghìn ngôi sao cháy / Mười nghìn tiếng chuông ngân trong im lặng / Mười nghìn trái tim neo ở đầu nguồn... Mười nghìn Trường Sơn trong một Trường Sơn / Mười nghìn lời ca trong bài ca lớn / Mười nghìn cái tên đêm đêm mẹ nhắc / Mười nghìn giấc mơ của mẹ chờ ta / Mười nghìn con đò thương về bến đợi / Mười nghìn hạt giống chưa về phù sa... Nhớ và viết về Trường Sơn Nguyễn Hữu Quý đã hoài vọng đến những năm tháng không quên từ một Trường Sơn mười nghìn khát vọng đến Trường Sơn trong cơn mưa rừng chiều nay khi các anh đưa hài cốt đồng đội trở về với quê hương với đất mẹ trong rưng rưng của đất trời và con người: Tấm ni-lon dành che hài cốt / Chúng tôi như cây đẫm buốt mưa rừng / Tay đồng đội nâng niu đồng đội / Cơn mưa rừng trào khoé mắt rưng rưng!...Hay nhà thơ chỉ nghe tiếng ve kêu như lửa ở Nghĩa trang Trường Sơn mà nỗi lòng nhức nhối bao mất-còn của dân tộc ve kêu như tiếng kèn chiêu tập các liệt sĩ về quy tụ: Kêu sớm kêu chiều kêu cả hoàng hôn /Kêu bồ đề xanh kêu tượng đài trắng / Kêu buốt lá kim trên cây mọc thẳng / Tiếng kêu nhức nhức Trường Sơn... (Ve kêu ở nghĩa trang Trường Sơn). Rồi có lúc người đọc lặng người đi khi nhà thơ nhắc đến một Hà Nội ở giữa bạt ngàn Trường Sơn với tên ngõ phố con đường...khắc sâu vào bia đá liệt sĩ và dường như những người con đất Hà Thành nằm lại đây vẫn hướng về quê hương: Người đi qua cuộc chiến / Nằm lại với Trường Sơn / Giữa mưa chiều nắng sớm/ Thương nhớ đất Thăng Long..." (Có một Hà Nội ở Trường Sơn).

Đối với nhà thơ Nguyễn Hữu Quý thì hai từ Trường Sơn quá đỗi thiêng liêng gắn bó từ cây bồ đề mọc ở nghĩa trang đến kí ức về những cô gái tóc dài. Và dường như tình yêu ấy nỗi nhớ ấy phải nói bằng một tác phẩm lớn hơn bề thế hơn như trường ca Vạn lý Trường Sơn. Trong trường ca này hình tượng cây bồ đề nằm ở phần mở đầu mang cả một thế giới tâm linh với nguồn gốc rất đặc biệt: mọc không do ai trồng cả. Phải  chăng đó là linh hồn của rừng sâu núi thiêng của Trường Sơn hùng vĩ: Sinh ra cùng ngày với tượng đài Tổ Quốc ghi công / Cây bồ đề đã trở thành đại thụ / tán lá bầu  trời tròn che chở / vạn linh hồn phiêu diêu...Cây bồ đề trong tâm thức người Việt là loài cây gắn liền với đạo Phật đặc trưng cho tinh thần nhà Phật cho cõi Niết bàn siêu thoát. Phải chăng dưới tán cây ấy hơn mười nghìn liệt sỹ trong Nghĩa trang Trường Sơn hơn mười nghìn linh hồn đang yên nghỉ đang hướng về đức Phật từ bi. Cây bồ đề mọc lên với sức tỏa trăm núi trăm sông giống như sự chiêu hồi chiêu tập tất cả các liệt sĩ.  Mọc lên để khẳng định rằng sự bất tử của những con người đã ngã xuống vì non sông đất nước: Họ vẫn sống như từng đã sống / Trong đạn bom mưa nắng Trường Sơn / Và vẫn vươn xa như những con đường ...Họ nguyện gánh trên vai Tổ Quốc / Nhẫn lại bước đi trong giông bão gập gềnh.

Với giọng thơ đầy truyền cảm ngôn từ giàu hình ảnh Trường Sơn được nhà thơ Nguyễn Hữu Quý nhắc đến trong hơn nửa số lượng tác phẩm trong tập sách này như một dấu ấn riêng. Đồng thời cũng cho thấy rằng nhà thơ rất nặng lòng với Trường Sơn bởi nơi ấy gắn với những tháng ngày máu lửa nơi ấy: Mọi quê hương vượt Trường Sơn đánh giặc / người lính gánh gùi bão táp trên lưng / họ đi song song với biển Đông / trong cuộc đọ sức với kẻ thù đã bay lên mặt trăng bằng tàu vũ trụ / Họ phải đi bằng đầu / thế mơí thành huyền thoại / có một Trường Sơn làm kinh ngạc quân thù / Có ở nơi nào / hoa phong lan trở thành vũ khí / nguỵ trang những con đường dài hàng trăm cây số / con gái tranh nhau đi phá bom từ trường nổ chậm...(Vạn lý Trường Sơn)

Đi sâu vào thân phận người phụ nữ trong chiến tranh.

Đó là hình ảnh người mẹ trong Bông huệ trắng với nỗi khao khát mong chờ những đứa con ra trận trở về. Nhưng những đứa con của mẹ chỉ về trong gió để têm cho mẹ miếng trầu cay để xoè tay trên bếp khói để giúp mẹ đánh rạ dọn rơm...Phải chăng đó chính là mơ ước hàng ngày của những người mẹ khi mà tiếng súng chiến trường đã im bặt rất lâu:Trắng thời gian những thập kỉ mong chờ / Mẹ thao thức mắt mờ tóc bạc / Mẹ nghe khúc khải hoàn trong nước mắt / Mẹ đợi từng ngày các con mẹ về quê/ Những đứa con của mẹ đang về... Ở phần cuối trường ca Vạn lý Trường Sơn hình tượng người mẹ được nhà thơ dựng lên đầy xúc động và mới mẻ. Mẹ Việt Nam vốn là một hình tượng quen thuộc với thơ ca nhạc hoạ...Trong văn học nghệ thuật đã có những tượng đài bất tử về mẹ. Nguyễn Hữu Quý đã góp thêm một hình tượng người mẹ Việt Nam không giống với bất cứ ai từ trước tới nay: Mẹ-miền- ôn- hoà- an- tĩnh của con / cái- vĩ- tuyến- hoà- bình- tin- cậy nhất. Dẫu phải gánh chịu bao nỗi mất mát đớn đau: Mẹ đã có những đứa con ngã xuống trong chiến tranh; những ngôi nhà bị đốt cháy trong chiến tranh; những mùa màng bị sát hại trong chiến tranh; những tình yêu bị cướp đoạt trong chiến tranh...thì mẹ vẫn là một vĩ tuyến hoà bình tin cậy. Đó cũng có thể coi là một cách định nghĩa về mẹ rất đặc biệt rất sâu sắc của nhà thơ.

Hình ảnh những người con gái trên chiến trường được nhà thơ miêu tả vừa có sự dịu dàng dũng cảm vừa phải gánh chịu nhiều mất mát đau thương. Khi ra đi họ còn mang theo hương rừng Trường Sơn trên mái tóc trong vầng ngực thanh tân: Có một đoàn quân tóc dài không tuổi/ Gội hương rừng ngan ngát mái Trường Sơn..." (Trường Sơn tóc dài). Trong trường ca Vạn lý Trường Sơn người con gái được nhà thơ gọi dịu dàng thân mật là em sống lại trong kí ức trong trang nhật kí ố vàng. Một tình yêu dang dở tình yêu bị chiến tranh chia cách nhưng dường như sự ác liệt ấy cũng không thể cướp được em trong hồi niệm. Một lễ vu quy một lời cầu hôn muộn trễ ta rước em qua bốn mùa cùng em trở về bên mẹ bên quê hương bên giếng nước ao làng...Đọc những câu thơ đầy xúc động: Cưới em tôi cưới ngày xưa / Của hồi môn có cơn mưa cầu vồng... hay: Phận người có có-không không / Sống là sống gửi thác mong được về / Hồn quê ở giữa lòng quê/ Neo vào ngọn gió phu thê xanh rờn... ta như thấy rằng nhà thơ càng cố lấp đầy vào khoảng trống mất mát sau chiến tranh bao nhiêu thì cái cảm giác trống trải nhức nhối càng rộng lớn đau đáu bấy nhiêu.

Nhức nhối trước nỗi đau nhân loại.

Nỗi đau ấy trước hết là nỗi đau của quê hương của dân tộc đã từng trải qua biết bao cuộc chiến tranh giải phóng và bảo vệ đất nước. Biết bao máu đã đổ xuống bao người tuổi đôi mươi nằm lại mãi mãi chiến trường bao cuộc chia ly vĩnh viễn...Tất cả nỗi đau ấy như đang thấm dần vào hồn thơ Nguyễn Hữu Quý: " Máu Việt / giọt / giọt / thoát lên từ đất / thắp những hồi chuông đỏ rực đỉnh ngày / và vì thế / cỏ xanh đau như cắt (Những hồi chuông màu đỏ) để rồi nhà thơ phải thốt lên rằng: Những khuất chìm nhức nhối đổ về đâu ???.Trong trường ca Vạn lý Trường Sơn trước nỗi đau của mẹ về chiến tranh thế giới về I Rắc về những nỗi đe doạ cuộc sống của mọi con người trên hành tinh này những câu hỏi như: Liên hợp quốc là gì?/ Liên quân là ai? tác giả đã ngậm ngùi xót xa hỏi trước triệu triệu người có lương tri trên thế giới : Nhân loại sẽ về đâu / Trong những mưu toan vẩn đục?

Như vâỵ là trong Những hồi chuông màu đỏ nhà thơ không chỉ tái hiện lại một chặng đường lịch sử hào hùng oanh liệt hay nỗi đau đớn mất mát xót xa của dân tộc mà còn thể hiện khát vọng hoà bình chảy bỏng của mình đến với toàn nhân loại. Điều này đã góp phần nâng cao mở rộng tầm tư tưởng cũng như tính nhân văn sâu sắc của tập thơ và trường ca Những hồi chuông màu đỏ. Đây cũng được coi như nhà thơ đang thắp một nén nhang thơm đến các hương hồn liệt sĩ và gửi lời tri ân đến những người đã cầm súng chiến đấu vì nền độc lập thống nhất dân tộc.

                                                

   VŨ THỊ HUYỀN TRANG

    

More...

Bức ảnh kỳ lạ

By Sinh ở cuối dòng sông


Ảnh sưu tầm trên NET

More...

Hoa Xuân

By Sinh ở cuối dòng sông


 
 Tranh của hoạ sĩ Arthur HacKer (Tây Ban Nha 1858 - 1919)

Lối hoa về không chọn đường xuân
 anh nhặt lại những dấu hoa mùa cũ
 ký ức thơm và em như ẩn dụ
của một loài hoa tinh khiết chưa về

 Nguyễn Hữu Quý

More...

Đường tuần tra biên giới Tây Bắc

By Sinh ở cuối dòng sông

Mấy ngày rong ruổi trên con đường tuần tra biên giới đang mở ở Tây Bắc. Con đường chưa hoàn thiện đỏ au uốn lượn trên những triền núi trập trùng cheo leo ở độ cao trên dưới 1000 mét. Con đường đi trong mây chạy song song với đường biên cột mốc thiêng liêng ấy sẽ là công trình vĩ đại của dân tộc ta. Đứng trên đỉnh Mường Hung một sĩ quan công binh trẻ quê Hà Nội đã đọc cho chúng tôi nghe bài thơ Thần "Nam quốc sơn hà nam đế cư..." . Vài bức ảnh sau đây chỉ là những chấm phá tôi ghi lại trong chuyến đi vừa qua.

 
 Qua phà Trung Châu 
 
 
 Bộ đội công binh mở đường trên độ cao hơn 1000 mét


 
 Hoa ban nở bên con đường tuần tra biên giới.

 


 
 

More...

NGÀY THƠ VIỆT NAM

By Sinh ở cuối dòng sông

Rực rỡ tưng bừng sâu lắng là cảm nhận chung về Ngày Thơ Việt Nam năm nay tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám Hà Nội. Mời các bạn xem một số hình ảnh do NHQ ghi lại sáng nay:


Múa hoa sen


Rước kiệu Thơ


Nhà thơ Hữu Thỉnh đánh trống khai mạc Ngày Thơ VN

Các nhà thơ đọc thơ và giao lưu:


Lò Cao Nhum

Nguyễn Hữu Quý

Nguyễn Thị Ngọc Hà

Sân thơ trẻ

Thả 50 câu thơ hay lên Trời



Bên Cây Thơ của mình


    
                                                                                                           

More...

Ngày Thơ tại Khoa Viết văn Đại học Văn hoá Hà Nội

By Sinh ở cuối dòng sông

Ngày 8 tháng 2 ( 14.tháng Giêng Kỷ Sửu ) Khoa Viết văn Đại học Văn hoá Hà Nội đã tổ chức Ngày thơ Việt Nam. Nhiều nhà thơ nhà văn quen thuộc đã tới dự như Bằng Việt Phạm Công Trứ Trần Quang Quý Nguyễn Thị Ngọc Hà Mai Nam Thắng Hoàng Quý Đàm Khánh Phương Nguyễn Hữu Sơn Võ Xuân Hà Đặng Hiển Đoàn Tử Huyến Nguyễn Hữu Quý...Dưới đây là một số hình ảnh về Ngày thơ tại ĐHVH HN.

 
 Nhà văn Văn Giá trưởng Khoa
đọc lời khai mạc rất là dễ thương


Cây bút trẻ Lữ Thị Mai (bên trái) đọc thơ.

Một góc sân thơ (Người đội mũ được các em xinh đẹp mời kẹo là nhà thơ Mai Quỳnh Nam)

Nguyễn Hữu Quý cũng được mời đọc thơ (Tuổi hơi cao trí nhớ kém nên phải cầm giấy)

Hoàng Quý ở miền Nam ra đọc thơ rất hào sảng...Mấy em sinh viên vỗ tay rần rần.

Ánh Hồng vừa đọc thơ vừa cười có chuyện chi rứa hè?


Mai Nam Thắng giọng Quảng Bình
đọc thơ sang sảng ý tình chứa chan


Ảnh: Nguyễn Cố Nông

 

More...

Ngày Thơ Việt Nam năm nay có gì mới?

By Sinh ở cuối dòng sông

 



Ngày thơ Việt Nam năm nay

2 chủ đề chính: Bác Hồ và Trường Sơn

 

Theo nhà thơ Hữu Thỉnh Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam Ngày thơ tổ chức tại Quốc tử giám - Văn miếu Hà Nội vào Rằm tháng Giêng (9.2 dương lịch) với tinh thần "lễ hội hoá và sân khấu hoá"
        Năm 2009 chúng ta kỷ niệm 40 năm Bác Hồ lên đường nhẹ bước Tiên (1969-2009) và để lại bản Di chúc lịch sử cho dân tộc; 50 năm đường Hồ Chí Minh - Bộ đội Trường Sơn (1959-2009) nên 2 chủ đề chính của Ngày thơ Bác Hồ Trường Sơn. 
       
Mở đầu Ngày thơ Việt Nam sẽ có màn múa Đèn lồng múa Hoa sen của 60 thiếu nữ trang phục màu hồng và nghệ sĩ trong vai anh bộ đội đọc bài thơ Nguyên tiêu nổi tiếng của Hồ Chí Minh. 
        Một nhà thơ trình đọc bài "Muôn vàn tình thân yêu trùm lên khắp quê hương" của Việt Phương. 
        Có 20 cây thơ của 20 tác giả tiêu biểu viết về Trường Sơn được trưng bày ở sân Nhà Thái học. Ngoài tiết mục đọc ngâm những tác phẩm tâm đắc của mình 11 nhà thơ (5 nữ 6 nam) sẽ giao lưu với bạn đọc.
        Chương trình Ngày Thơ còn có phần xướng hoạ thơ Đường mời đối trực tiếp hái hoa thơ... 
        Đặc biệt năm nay Hội Nhà văn tổ chức thêm sân thơ dành cho thiếu nhi trong đó sẽ có giao lưu rất thú vị của các nhà thơ nổi tiếng với bạn đọc nhỏ tuổi và sân thơ dịch. 
        Tuy nhiên cũng như mọi năm tiết mục thả lên Trời 50 câu thơ hay vẫn được duy trì một cách trang trọng.

                                                                                             Hoà Bình

More...

LỜI CHÚC ĐẦU NĂM KỶ SỬU 2009

By Sinh ở cuối dòng sông

NĂM MỚI HẠNH PHÚC BÌNH AN ĐẾN
NGÀY XUÂN VINH HOA PHÚ QUÝ VỀ
 

More...