Quán thơ ở cuối dòng sông: Cảnh khuya

By Sinh ở cuối dòng sông

CẢNH KHUYA

Tiếng suối trong như tiếng hát xa

Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa

Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ

Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà.

                             Hồ Chí Minh

Lời bình:

Trong bài Cách mạng trăng và thơ in Văn nghệ quân đội số 724 tháng 5-2011 Hoàng Quảng Uyên viết: Theo hồi ký của các đồng chí sống gần Bác ở Khau Tý (Tuyên Quang-NHQ) thì Bác viết bài “Cảnh khuya” vào cuối thu năm 1947. Lúc này cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta đã bước qua năm thứ 2 và có nhiều thử thách gian nguy mới.

Giữa chiến khu Việt Bắc trong bộn bề công việc Bác vẫn có những phút giây lắng lại với thơ và đã để lại cho đất nước những thi phẩm giàu chất trữ tình và lòng yêu nước mà Cảnh khuya là một ví dụ.

Bài thơ tứ tuyệt chỉ bằng mấy nét chấm phá thôi mà bao nhiêu điều lớn lao được gợi mở: này là thiên nhiên này là con người này là tâm là trí là tình của lãnh tụ - nhà thơ…Một sự hài hòa giao thoa tuyệt vời giữa cảnh với người giữa chủ thể với khách thể giữa thi-họa-nhạc để tạo nên một tác phẩm thơ hay.

Tiếng suối trong như tiếng hát xa.

Khởi đầu là một sự nghe. Nghe tiếng suối rừng chảy trong đêm khuya khoắt. Đêm rừng tĩnh mịch sâu lắng nên tiếng suối vọng vào càng rõ càng trong càng hay. Nhà thơ Hồ Chí Minh nghe tiếng suối khuya bằng tâm hồn nên mới lắng hết tiếng hát xa của dòng nước trong nguồn chảy ra. Tiếng hát xa ấy là giai điệu trong trẻo của núi rừng của đất nước và sao ta không nghĩ đó là tiếng mẹ hát ru thời ấu thơ nhỉ. Từ xa biểu thị khoảng cách không gian nhưng trong hoàn cảnh nào đó thì nó cũng có thể là thời gian đã qua. Công cha như núi Thái Sơn/ Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra (Ca dao). Tuổi thơ đã xa nhưng những kỷ niệm về mẹ vẫn còn vẹn nguyên da diết hiện lên cùng tiếng suối đầu nguồn. Âm a trong từ xa mở ra sự mênh mang và lan tỏa. Thanh điệu cũng ngân nga như dòng nhạc tuôn ra nhịp nhàng man mác. Tiếng (trắc) suối (trắc) trong (bằng) như (bằng) tiếng (trắc) hát (trắc) xa (bằng): trắc/ trắc/ bằng/ bằng/ trắc/ trắc/ bằng. Lòng người thanh cao sáng ngời không hề vẩn đục mới nghe được tiếng suối trong như tiếng hát xa như thế. Tiếng suối trong như tiếng hát xa ấy là “điệu tâm hồn” thiết tha của nhà thơ Hồ Chí Minh là bản nhạc ngân lên từ trái tim Người.

Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa

Trăng cây hoa. Những đối tượng miêu tả quen thuộc trong thơ cổ. Có thể là cảnh thực có thể là ước lệ. Trong Cảnh khuya thì đó là thực nhưng cái thực đã được ảo hóa và mang nét riêng gần gũi. Hầu như không có sự ngăn cách xa biệt nào giữa người với cảnh. Trong cảnh có tình người sâu sắc thương mến lắm. Thế mới có sự chan hòa đồng điệu giữa trăngcổ thụ bónghoa. Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa. Từ lồng đắc địa vô cùng. Xưa - nay cũ - mới thực - ảo lồng vào nhau; trời đất - cây cỏ - con người lồng vào nhau trong sự thân thiện ấp iu chia sẻ đồng cảm. Toát lên cái vị thế của chủ thể từ sự thấu hiểu được mối quan hệ Thiên - Địa - Nhân khi vận dụng suy xét vào cái Thời - Lợi- Hòa của cuộc kháng chiến chính nghĩa của dân tộc ta. Tuy nhiên đây không phải là kiểu thơ tức cảnh sinh tình bởi lòng yêu nước thương dân đã có sẵn trong Bác. Cảnh khuya chỉ là cái nền để Người thổ lộ tấm lòng của mình đối với Tổ quốc với đồng bào yêu dấu mà thôi.

Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ

Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà.

Hai câu thơ cuối cho ta thấy rõ hơn sâu hơn cái Tâm ngời sáng của lãnh tụ. Bác đã có bao đêm không ngủ vì thương nước thương dân. Trong nhà tù Tưởng Giới Thạch Bác đã từng Một canh hai canh lại ba canh/ Trằn trọc băn khoăn giấc chẳng thành/ Canh bốn canh năm vừa chợp mắt/ Sao vàng năm cánh mộng hồn quanh. Hình ảnh đất nước dân tộc nhân dân luôn ở trong trái tim Hồ Chí Minh. Lo cho dân tộc được hòa bình độc lập tự do lo cho mỗi người dân ai cũng có cơm ăn áo mặc ai cũng được học hành là nỗi lo lớn nhất canh cánh trong lòng Bác. Cảnh khuya hiện ra mồn một như sự thao thức của lãnh tụ là bức tranh vẽ tâm trạng của Người. Cuộc kháng chiến kiến quốc của dân tộc đang ở trong giai đoạn cam go. Hai câu thơ cuối là sự trở lại với thực tại cuộc sống. Nỗi nước nhà vẫn là mối lo toan lớn nhất của Người không chỉ một đêm không chỉ một ngày mà suốt cả cuộc đời Hồ Chí Minh. Câu thơ cuối cùng không phải là sự lý giải mà đó là tấm lòng của Bác một Con Người viết hoa như Tố Hữu đã ca ngợi: Bác sống như trời đất của ta/ Yêu từng ngọn lúa mỗi nhành hoa/ Tự do cho mỗi đời nô lệ/ Sữa để em thơ lụa tặng già…

                                                                                                                                          Nguyễn Hữu Quý

alt

Thắp hương tại Nhà Bác Hồ ở Thái Lan

Ảnh NHQ

 

More...

Quán thơ ở cuối dòng sông: Mẹ và quả

By Sinh ở cuối dòng sông

 MẸ VÀ QUẢ

 

Những mùa quả mẹ tôi hái được

Mẹ vẫn trông vào tay mẹ vun trồng

Những mùa quả lặn rồi lại mọc

Như mặt trời khi như mặt trăng

 

Lũ chúng tôi từ tay mẹ lớn lên

Còn những bí và bầu thì lớn xuống

Chúng mang dáng giọt mồ hôi mặn

Rỏ xuống lòng thầm lặng mẹ tôi

 

Và chúng tôi một thứ quả trên đời

Bảy mươi tuổi mẹ mong chờ được hái

Tôi hoảng sợ ngày bàn tay mẹ mỏi

Mình vẫn còn một thứ quả non xanh.

                                                     Nguyễn Khoa Điềm

Lời bình:

Từ trước đến nay có không ít bài thơ viết về mẹ thật cảm động. Đây là đề tài quen thuộc với người làm thơ trong nước và cả thế giới. Viết về mẹ có cái dễ và cũng có cái khó. Dễ bởi vì nhìn tổng thể ít có tình cảm nào dào dạt sâu nặng như tình mẹ con. Cảm xúc sự khởi đầu cũng là yếu tố quan trọng bậc nhất trong hành trình sáng tạo thi ca khi viết về người sinh ra mình thường có sẵn trong tâm hồn nhà thơ. Khó là nếu không tìm được tứ mới thi ảnh độc đáo thì rất dễ bị lặp lại người khác. Nguyễn Khoa Điềm đã tìm được cái tứ rất hay và có những hình ảnh ấn tượng trong bài thơ "Mẹ và quả".  

Trước hết chúng ta xét đến mối liên hệ giữa con – mẹ - quả trong bài thơ. Trong đó mẹ giữ vị trí trung tâm. Mẹ với đức tính tần tảo cần cù khiêm nhường nhân hậu đã sinh ra con và làm ra những mùa quả. Trong sự so sánh của Nguyễn Khoa Điềm thì con cũng là một thứ quả của mẹ (đây cũng là cái tứ của bài thơ). Giữa thứ quả mẹ sinh ra và quả mẹ trồng được có những sự giống và khác nhau. Làm rõ sự giống khác nhau đó tác giả giải bày tình cảm tâm trạng của mình đối với mẹ.

Theo thời gian mưa nắng cuộc đời mẹ gắn bó với vườn tược ruộng đồng để làm ra những mùa màng ấm áp:

Những mùa quả lặn rồi lại mọc

Như mặt trời khi như mặt trăng.

Sự ví von có phần phóng đại nhằm nhân tầm kích sự vật lên. Những mùa quả của mẹ chính là sự sống ánh sáng của con cũng như mặt trời mặt trăng đối với trái đất này vậy. Không có mặt trời mặt trăng ngày và đêm trên trái đất sẽ tối tăm cũng như không có mẹ chúng con thiếu vầng sáng ấm áp và dịu mát của cuộc đời.

Tuy nhiên đằng sau sự ngợi ca cảm động đó là những băn khoăn có phần hối hận của mình về mẹ:

Những mùa quả mẹ tôi hái được

Mẹ vẫn trông vào tay mẹ vun trồng.

Những thành quả gặt hái được bây giờ là do công sức mẹ bỏ ra chúng con chưa làm được gì cho người cả. Ý thức ấy lại tiếp tục được khai triển trong mối liên hệ giữa con – mẹ - quả như đã nói ở trên:

Lũ chúng tôi từ tay mẹ lớn lên

Còn những bí và bầu thì lớn xuống

Chúng mang dáng giọt mồ hôi mặn

Rỏ xuống lòng thầm lặng mẹ tôi.

Hình ảnh quả bí quả bầu treo trên giàn được biểu đạt bằng sự lớn xuống (ngược chiều với con của mẹ lớn lên) và được ví như những giọt mồ hôi mặn thầm lặng rỏ xuống lòng mẹ. Trước sau mẹ vẫn thế âm thầm chịu thương chịu khó nuôi con không đòi hỏi một sự trả ơn báo đáp nào cả. Cũng tựa như cây trái của mẹ im lặng nuôi người không mong lời tụng ca. Mẹ chỉ mong chúng ta mau chín chắn khôn lớn trưởng thành để có ích cho đời. Điều mong mỏi ấy đâu chỉ có trong ngày một ngày hai mà đằng đẵng kéo dài từ tháng này qua tháng khác năm này qua năm khác. Khi già rồi thì niềm mong ấy của mẹ vẫn không hết. Bởi vậy con – một thứ quả trên đời mà mẹ mong chờ được hái - ai chẳng có tâm trạng:

Tôi hoảng sợ ngày bàn tay mẹ mỏi

Mình vẫn còn một thứ quả non xanh.

Từ cây quả liên tưởng so sánh đến con người Nguyễn Khoa Điềm cho ta một bài học thiết thực về lòng hiếu nghĩa với mẹ cha.

                                                                                                                                Nguyễn Hữu Quý

alt

 

 

More...

Chùm thơ về Điện Biên

By Sinh ở cuối dòng sông

CHÙM THƠ VỀ ĐIỆN BIÊN

 

Lâu rồi chưa lên lại Điện Biên. Bỗng dưng bâng khuâng nhớ đồi A1 nhớ cánh đồng Mường Thanh nhớ Cửa khẩu Tây Trang…Nhớ đêm xòe bản Thái với những cô gái đáy thắt lưng ong áo cóm khăn piêu đẹp như vừa bước ra từ bài dân ca trữ tình: Kinh khửu huôm bó cựa/Khí hưa huôm ta bải/Ải cánh Noọng huôm nén liêu/ Panh xương nghịa păn pi nhá liêu ( Ăn cơm chung nguồn muối/ Xuống suối chung thuyền chèo/Anh với em chung thủy đừng phai/Yêu thương ngàn năm đừng quên…). Chợt nhớ tới chùm thơ Điện Biên viết lâu lâu rồi. Muốn đọc lên đọc lên cùng ai đó nơi miền Tây Bắc vời vợi xa…

Nguyễn Hữu Quý

ĐIỆN BIÊN GỌI TÔI LÊN

 

Có phải tiếng hò kéo pháo gọi tôi lên

hay ban trắng triền xuân còn đang đợi

Nậm Rốm tím sương chiều chờ tôi đến

Mường Thanh xanh líu ríu câu mời?

 

Chưa biết hẹn cùng ai lòng đã núi

mới Pha Đin đã bối rối Điện Biên rồi

qua chót vót đỉnh rừng thăm thẳm suối

mây che mùa chiến dịch vẫn còn bay…

 

Áo trấn thủ bập bùng đêm đuốc lửa

nhịp hò dô vượt dốc pháo vào – ra

mưa xối buốt những bàn tay máu tứa

đất đỡ người ngã xuống hôm qua!

 

Về mùa em lòng chảo lúa mượt mà

cầm tay núi nối vòng xòe dìu dặt

đồi A1 đặt vào tôi câu hát

tôi hát cùng áo cóm hoa ban

 

Có gì đâu măng đắng cơm lam

hóa thơm thảo sông mường ruộng bản…

Điện Biên ạ mai xa rồi nhớ lắm

tôi hẹn về bên đồng đội và em!

 alt

CỎ CHÂN ĐỒI A1

Tiếng chuông kêu buốt cõi người

Ngổn ngang mây trắng phủ trời Điện Biên

Hàng hàng bia mộ không tên

Mấy rưng rưng cỏ bồi đền Vô danh?

 

HÁT Ở TÂY TRANG

 

Ví như Trạm* chẳng có em

e anh không hát được thêm câu nào

ví như núi chửa lên cao

Tây Trang ít gió…cất sao nên lời.

 

Hát vì lay láy ấy thôi

đôi câu cũng bởi lúm cười miền Tây

vượt ngàn khúc khủyu lên đây

bắt tay lính lại cầm tay của nàng!

 

Hát khi chẳng kịp gẩy đàn

tay suông vỗ nhịp giọng tràn đường biên

lính cùng lính hát mà em

thẹn thùng chi phía trăng chênh người ngồi!

 

Hát lúc không thuộc cả lời

u u như gió thổi nơi điệp trùng

nghê nga nhịp núi phách rừng

ai gieo dấu lặng lắng cùng cõi đêm

 

Hát cùng đồng đội cùng em

nỗi Tây Trang với nỗi niềm riêng chung

tròn đêm vai tựa liếp rừng

em nghiêng vò núi rưng rưng lá nguồn…

                                     Cửa khẩu Tây Trang 4.1999

----------------------

* Trạm Cửa khẩu Đồn biên phòng Tây Trang Điện Biên.

alt

Ảnh st trên NET

More...

Thơ cuộc lo toan đổi mới

By Sinh ở cuối dòng sông

THƠ CUỘC LO TOAN ĐỔI MỚI

Nguyễn Hữu Quý

Thơ tồn tại như sự minh chứng cho sức sống của ngôn ngữ dân tộc. Một đất nước yêu thơ ca chứng tỏ quốc gia ấy có tâm hồn lành mạnh sâu sắc và tinh tế. Chưa có dân tộc nào chối bỏ hay hạ thấp các nhà thơ chân chính những người biết tôn vinh và chia sẻ với Tổ quốc mình bằng thi ca. Cũng không ai đánh giá ghi nhận xếp hạng nhà thơ chính xác công bằng và sòng phẳng như đông đảo quần chúng nhân dân. Họ đọc thơ bằng trái tim và sự chiêm nghiệm từng trải cuộc sống bằng những linh cảm bản năng bằng lòng yêu không gì có thể thay thế được với tiếng nói mẹ đẻ.

Với các thi sỹ chúng ta tôi nghĩ làm thơ trước hết là để đi vào thẳm sâu hay bay cao trong cõi ngôn ngữ Việt. Sau đó mới là giao lưu hội nhập với bè bạn bốn phương. Khó đạt tới sự thấu tỏ tuyệt đối về cảm xúc và ý tứ về những lung linh của con chữ về tiết tấu nhịp điệu mang dấu ấn văn hóa lịch sử phong tục thói quen bản địa khi đọc thơ không nguyên văn ngôn ngữ nguồn cội của thi sĩ. Thơ không chỉ có nghĩa mà chủ yếu phải là tình là hồn những khái niệm ai cũng biết nhưng lý giải một cách thấu triệt và sâu sắc là vô cùng khó. Trong thơ có hơi thở hồn vía của dân tộc mình đồng bào mình. Nó chính là cái thấm sâu nhất lâu nhất và đương nhiên chí phối nhiều hơn cả trong hành trình sáng tạo của người cầm bút . Các nhà thơ đích thực ít ai không khởi đầu và đề cao chất truyền thống trong sáng tác thi ca.

Bập vào những trào lưu trường phái ngoại lai một cách vội vã thiếu chọn lọc dường như làm cho người ta dễ quên điều đó. Hệ quả của sự tiếp nhận đó không mấy tích cực lắm và sự thành công của nó cho đến hôm nay theo nhìn nhận của tôi là rất ít ỏi. Quá chuộng hình thức trong khi nội dung không mang được những phát hiện mới về cuộc sống lạ xa với thế thái nhân tình lợt lạt cảm xúc và cuối cùng là sự trắng tay của người cầm bút. Mấy trường hợp khởi đầu ầm ĩ ồn ào được một đôi bác chú tung hê ca tụng nay đã lặn hun hút. Đâu là mới mẻ đâu là cách mạng đâu là thành công? Sự lăng xê tiếp thị không thay thế được tác phẩm. Khái niệm đổi mới thơ có lẽ đã bị hiểu nhầm khi người ta chủ trương viết thế nào chứ không phải viết cái gì. Thực ra viết cái gì cũng quan trọng như viết thế nào. Tư tưởng nội dung và hình thức nghệ thuật đều phải đạt 100% nếu tác phẩm ấy muốn đạt đến độ hay. Cả hai quyện chặt lấy nhau tuy hai mà một như giọt lệ bi lãng mang trong nó nỗi đau và khát vọng của con người. Chính vì thế mà nó có vị mặn. Thơ của thời đổi mới ít vị mặn dù nó có vẻ lúng la lúng liếng hơn. Điệu đàng quá điệu đàng không chịu nổi chẳng mang lại sức sống mới cho thơ những tuyên ngôn cao giọng hùng hồn cãi vã lại thành quả sáng tạo cụ thể èo uột của họ.  Hãy nhìn lại đi. Chưa có những tên tuổi đích thực làm cho chúng ta phải tâm phục khẩu phục.Tác giả bài này không dám chê bai ai cả chỉ viết đúng những gì mình cảm nhận được trong lòng yêu thi ca rất mực cùng khát vọng nền thơ Việt vươn xa bay cao.

Sự thật là thơ vẫn chùng chình trong cuộc tìm đường đổi mới bởi những gì mà “phái” tiên phong cách tân mang đến quả là yếu ớt mỏng manh và chưa tạo được “trường” hấp dẫn cuốn hút như nhiều người làm thơ đọc thơ mong mỏi. Phần lớn người ta cảm thấy thơ khó hiểu hơn tắc tị hơn ảm đảm hơn u ám hơn rối rắm hơn. Xác thơ nhiều hơn hồn thơ. Những “hộp” thơ ngổn ngang rối bời chữ. Sự cằn cỗi thi ca không tưới tắm cho xanh rợp cây đời.

Thơ đang thiếu hậu thuẫn từ phía người đọc bởi nhiều nguyên nhân nhưng theo tôi do hai điều cốt yếu là: ít thơ hay và tính nhập thế của thơ vô cùng thấp.

Với tôi:

Thơ hay như lửa nó mang sứ mệnh cháy trong lòng.

Thơ hay như nước nó có phận sự chảy từ ít đến nhiều.

Thơ hay như hạt nó có trách nhiệm ấp ủ và nảy nở.

Thơ hay như mắt nó biết mở ra những tâm hồn.

Thơ hay như mùa nó biết tôn trọng những luân khúc để còn lưu giữ bản sắc của quá khứ. 

Thơ hay như người tình thấu tỏ nhau từng chân tơ kẻ tóc cho nhau cả dịu êm và rên xiết mưa bụi và cuồng phong.

Thơ hay như thơ biết chiếm lĩnh phần hồn của thiên hạ bằng sự cao cả của tâm hồn và minh triết của trí tuệ.

Thơ hay không gì khác là sự gặp gỡ thiên định của thăng hoa cảm xúc với lóe sáng của trí tuệ.

Thơ hay là thơ có sức sống lâu dài. Thơ hay là thơ neo bám được vào trái tim và khối óc con người. Không phải thơ dễ thuộc dễ hiểu đâu. Thơ Nguyễn Trãi vẫn còn mê hoặc ta trong những bí ẩn huyền diệu của thi ca chưa thể giải mã hết: Tự bén hơi xuân tốt lại thêm./Đầy buồng lạ mùi thâu đêm./Tình thư một bức phong còn kín/Gió nơi đâu gượng mở xem (Cây chuối). Ẩn dụ hay là siêu ẩn dụ đây? Thơ ở đẳng cấp cao không lộ ra không nói hết mọi điều. Nếu nói về miêu tả thì chắc không nhiều người  tả cây chuối đẹp và lạ như thế. Bàn tới sự đa nghĩa thì chắc Cây chuối không thua kém thi phẩm nào. Trong tôi hiện lên một Ức Trai đa cảm đa tình lắm. Tự bén hơi xuân tốt lại thêm. Mối liên hệ giữa Mùa (xuân) – Cây (chuối) là mối liên hệ của tình yêu; đối chiếu vào con người ta thấy mạch yêu ấy không ngừng tuôn chảy. Cây bén hơi xuân người bén hơi người cả hai đều tươi tốt thêm. Đầy buồng lạ mùi thâu đêm. Tình yêu đã đến độ kết trái tỏa hương nhưng hình như vẫn còn có điều gì đó nữa nên mới Tình thư một bức phong còn kín. Những nỗi niềm những ẩn khúc những mong ước chưa giải bày thổ lộ? Những xao xác tơ non còn rưng rưng giấu kín trong lòng?  Gió nơi đâu gượng mở xem. Theo tôi đây là một mời gọi khám phá rất tinh tế và cũng rất hiện đại có từ thế kỷ 15. Truyện Kiều của Nguyễn Du có thể dễ thuộc nhưng không phải là dễ hiểu và hình như rất ít ai nói đó không phải là tuyệt tác. Thơ Hồ Xuân Hương cũng thế bình giảng thấu đáo là vô cùng khó. Ngay ca dao cũng vậy không phải câu nào cũng nôm na đơn lược. Xin được nghiêng mình bái phục: Ước gì sông hẹp tày gang/ Bắc cầu dải yếm mời chàng sang chơi. Chiếc cầu dải yếm không hiện đại à? Hay: Hỡi cô tát nước bên đàng/ Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi. Ánh trăng cô gái thôn nữ “múc” đổ đi ấy lấp lánh muôn đời đấy chứ.

Hồn vía Việt giọng điệu Việt…đậm đà trong Nguyễn Trãi Nguyễn Du Hồ Xuân Hương… và sau này đến những Huy Cận Chế Lan Viên Xuân Diệu Hàn Mặc Tử…cũng thế. Thơ mới 1930 – 1945 không ít bâng khuâng Đường thi và lục bát dân ca. Thơ muôn năm là dòng chảy liên tục không bị đứt gảy cũng như tinh thần và tâm hồn sâu kín của dân tộc được truyền lưu từ thế hệ này qua thế hệ khác. Nên hiểu thơ trước hết là thân phận con người chứ không phải là nghề nghiệp mưu sinh. Thơ là hồn là linh là phần âm của con người trần thế. Thơ là dân tộc là xứ sở trước khi là nhân loại là thế giới. Tôi thường tâm niệm thế.

Mạo muội nghĩ rằng đúc kết của cổ nhân (Hiệu Nhiên – Trung Quốc) vẫn nguyên giá trị tham khảo với người làm thơ: Thơ có 6 chỗ cần đạt đến (Thi hữu lục chí). Đó là: Hiểm nhưng không hóc tắc; Kỳ nhưng không quái; Đẹp mà tự nhiên; Lao tâm khổ tứ nhưng không để lại dấu vết ; Lời gần mà ý xa; Phóng khoáng nhưng không vu vơ.

Không thể tùy tiện ghép các ngôn từ lại là thành thơ. Thơ mang trong nó những câu chuyện của cuộc đời buồn vui thế sự tư tưởng tình cảm. Thơ khác văn xuôi và càng khác câu nói bình thường bởi nó có thi tứ có thi ảnh tiết tấu nhịp điệu…nói tóm lại nó phải có lề luật quy tắc thơ. Câu dài câu ngắn. Có vần không vần. Êm xuôi trúc trắc. Nhanh chậm. Đậm nhạt. Nặng nhẹ. Duy tình duy lý. Cũ mới. Trước hết cũng đều phải tạo ra được ấn tượng thẩm mỹ. Phải tuân thủ quy luật thơ đó là quy luật của cảm xúc như Xuân Diệu từng nói.

Lo toan cho thơ mới mẻ thời nào cũng có. Làm thơ là sáng tạo là công việc của kẻ không lặp lại mình không bắt chước người. Người làm thơ ít người dửng dưng với đổi mới cách tân. Nhưng đổi mới thế nào cách tân ra sao mới là điều đáng nói. Mở miệng rên la hay gào thét cũng có thể là thơ nhưng cũng có thể không là gì cả. Chàng kỵ mã thi ca có thể tạo ra được những đường phi ngoạn mục nhưng cũng có thể ngã ngựa từ bước vó đầu tiên vì không biết cầm cương. Không phải những clip ngôn ngữ tình tang được tung lên mạng mới được gọi là thơ đổi mới. Đưa chất tục tính dục vào thơ cũng không gì mới cả. Điều đáng nói là cái tục cái dục đó được thể hiện như thế nào thôi. Cũng đừng mong chửi bới vung vít hay ném những “vật kín” những “vật thải” ấy vào thơ để trở thành tân kỳ hiện đại. Thơ nằm ngoài sự hời hợt và thực dụng cũng không phải là trang sức của con người.

Thơ xứng đáng được tôn vinh là linh hồn cuộc sống. Đổi mới thơ là làm cho thơ cần thiết với cuộc sống hơn. Nó nhập vào nhịp sống đời thường tự nhiên và thân thiết. Phát hiện những bí ẩn của cuộc sống và diễn đạt nó bằng cảm xúc tràn trề bằng sự thấu hiểu xa rộng bằng những cấu tứ độc đáo bằng những sáng tạo ngôn ngữ đó là đổi mới. Hành trình đổi mới cũng là hành trình bám riết dân tộc bám rễ cuộc sống nhận ra trong sự xung đột xã hội những giá trị nhân văn tươi mới. Là hướng tới sự giản dị giản dị giản dị để truyền cảm được xúc động xúc động xúc động cao nhất. Điều ấy thực ra bao thế hệ nhà thơ trong nước ngoài nước đã làm mà R.Tagore (Ấn Độ) là một dẫn chứng vô cùng thuyết phục: Thơ tôi đã rũ sạch mọi điểm trang lòe loẹt không còn kiểu cách huyênh hoang. Vật trang sức sẽ làm hại tình thân giữa đôi ta sẽ ngăn cách Người với tôi và khi va chạm thành tiếng xủng xẻng sẽ át cả tiếng người thì thầm…hay: cuộc tập dượt phức tạp nhất chính là cuộc tập dượt đưa tới vẻ giản đơn tột cùng của một hòa âm.

Có lẽ nhờ thế mà thơ R. Tagore sống mãi mới mãi không chỉ với nhân dân Ấn Độ mà với cả nhân loại chúng ta.

                               Đồng Xa giữa xuân Tân Mão 2011

alt

More...

Quán thơ ở cuối dòng sông: Tắm máng

By Sinh ở cuối dòng sông

TẮM MÁNG

 

Trên bản có một cái khe

Trên khe có một lùm cây

Ở dưới lùm cây có một cái máng

Chảy ra một dòng tươi mát

Chảy ra một dòng ánh sáng

Mơn man làn mây buông xõa

Mơn man vầng trăng nõn nà

 

Làn mây ấy

Vầng trăng ấy

Cả ngày dấu mình trên nương ruộng

Cả ngày dấu mình trong nắng lửa

Để bây giờ hiện ra

Làm dịu mát cả bầu trời mùa hạ

Để đêm lại bay vào cổ tích dân ca.

                                               

                               Lò Ngân Sủn

alt

Lời bình của Nguyễn Hữu Quý:

Tắm máng là một cách tắm quen thuộc của các cô gái vùng cao phía Bắc. Những dòng nước trong lành từ khe từ suối chảy vào máng rồi  tiếp tục chảy xuống người tắm. Trong bài thơ này Lò Ngân Sủn đã vẽ ra cho ta thấy một chiếc máng tắm như thế: "Trên bản có một cái khe/ Trên khe có một lùm cây/ Ở dưới lùm cây có một cái máng". Dễ hình dung quá đúng không! Chỉ lưu ý thêm hình ảnh "Ở dưới lùm cây có một cái máng". Nơi tắm của các cô gái cần phải kín đáo do đó cái máng tắm không thể không có một lùm cây che. Lùm cây như chiếc ô của núi che các cô gái bản thuần phác hồn nhiên.

Nhưng điều chúng ta phục nhất ở nhà thơ miền núi này là nói đến tắm mà không hề dùng một chữ nào về nước và người. Thế mà khi đọc bài thơ thì hình ảnh nước và hình ảnh cô gái vùng cao đẹp người đẹp nết  đang tắm máng cứ hiện lên mồn một trước mắt ta.

Nước được thay thế bằng các hình ảnh: "Chảy ra một dòng tươi mát/ Chảy ra một dòng ánh sáng". Nước khe trong vắt chảy từ máng ra đúng là "một dòng tươi mát" rồi nhưng khi nó được ví như "một dòng ánh sáng" thì lung linh ngời ngợi quá. Ánh sáng đây là ánh xạ của nước của bầu trời của vầng trăng hay là từ thân thể của các cô gái tỏa ra? Có lẽ tất cả tất cả hòa lẫn vào nhau tạo ra vẻ đẹp long lanh nơi chốn sơn khê xa tít. Và cái dòng tươi mát cái dòng ánh sáng ấy "Mơn man làn mây buông xõa/ Mơn man vầng trăng nõn nà". Người đẹp giấu mình trong mây trong trăng. Tóc như làn mây buông xỏa thân thể như vầng trăng nõn nà. Một cách so sánh ngầm ý tứ kín đáo vừa đủ cho ta chiêm ngưỡng vẻ đẹp tự nhiên mượt mà đằm thắm của các cô gái vùng cao.

Nhưng đấy không phải là người đẹp ở trong lâu đài đâu nhé. Nét đẹp nét duyên ấy là của những cô gái chịu thương chịu khó làm lụng vất vả. Trong nắng gió miền rừng bóng người đẹp in trên những thửa ruộng bậc thang những nương lúa nương ngô chênh vênh sườn núi. Họ cần cù làm ra cái ăn cái mặc cho đời và dù gian lao cực nhọc đến mấy vẫn không đánh mất cái duyên cái đẹp của mình. "Làn mây ấy/ Vầng trăng ấy/ Cả ngày dấu mình trên nương ruộng/ Cả ngày dấu mình trong nắng lửa". Và chính họ những cô gái tắm máng ấy tỏa vào bầu trời mùa hạ những dịu mát bao la và chắp cánh cho đêm vùng cao bay vào miền cổ tích dân ca thăm thẳm.

Không nhiều câu chữ khi mộc mạc nôm na khi kín đáo mượt mà sử dụng rất giỏi phép hoán dụ so sánh Lò Ngân Sủn tác giả của bài thơ "Người đẹp" rất nổi tiếng lại cho ta  một thi phẩm "Tắm máng" thật bay bổng mơ màng. Có thể xem đây là một "Người đẹp" khác của Lò Ngân Sủn chăng?

   

More...

Chiều và Mẹ

By Sinh ở cuối dòng sông

alt

CHIỀU VÀ MẸ

Tản văn Nguyễn Hữu Quý

 

Gọi là gì cái buổi chiều lòng ta chợt thấy buồn vô cớ?

Cái kiểu buồn khó diễn tả và càng không cắt nghĩa được nguồn cơn ấy cứ vu vơ vu vơ như nắng như gió vào chiều.

Ta và bạn. Hai đứa đi xuyên qua thành phố đông nghịt người xe khét mù khói bụi để tìm về nơi gốc rạ lô xô.

Ngoại thành.

Bạn. Ta. Im lặng ngồi bên nhau dưới bầu trời tim tím màu hoa xoan đang được chiều đẩy lên cao. Hít thở mùi ruộng mùi mùa màng đang vãn mùi ký ức…Chợt gần chợt xa chợt nao nao nhớ lại những buổi chiều ta có mẹ.

Mẹ. Nón lá. Áo nâu. Tay liềm. Chân đất.

Mẹ. Lom khom giữa mênh mang cánh đồng thơm hạt thơm bông.

Mẹ. Cặm cụi gặt hái như không biết chạng vạng hoàng hôn đang lặng lẽ trôi về.

Mẹ!

Sự lặng lẽ tột cùng trong mọi sự lặng lẽ. Sự khiêm nhịn tột cùng trong mọi sự khiêm nhịn. Sự bao dung tột cùng trong mọi sự bao dung.

Mẹ ta mẹ bạn đã lặn vào chiều.

Mẹ bạn ở nơi châu thổ mênh mông bờ xôi ruộng mật...

Mẹ ta suốt đời gắn bó với rẻo đồng dưới chân dãy Trường Sơn trùng điệp. Núi thì cao. Biển thì rộng. Rẻo đồng hẹp hơn điệu lý câu hò nơi eo thắt nhất của đất nước ấy thiên nhiên muôn đời nay vô cùng khắc bạc. Cát trắng gió Lào chang chang hừng hực suốt nửa năm trời.

Miền đất ta sinh ra hẹp đến mức ta từng nghĩ nếu nó không neo bám vào Trường Sơn thì e có ngày bị trôi ra biển. Ấy nhưng chiều bao nhiêu chiều không ôm hết rẻo đồng hạn hẹp của mẹ để sự mênh mông tồn tại mãi với bây giờ tồn tại tới mai sau như tình mẫu tử vô tận.

Dù sinh ra ở mảnh đất nào thì tình mẹ lòng mẹ vẫn cứ bao la sâu thẳm như nhau.

Một câu thơ mộc mạc lang thang giữa mênh mông ấy cũng là chiều. Câu thơ của bạn của ta đang đi về phía mẹ. Phía mặt trời lặn xuống sau những rặng núi mờ xa. Phía cõi chiều sâu lắng của chốn quê và mẹ yêu thương.

alt

Ảnh st trên NET

 

More...

Quán thơ ở cuối dòng sông: Chờ

By Sinh ở cuối dòng sông

CHỜ

Sương rơi trắng bạc đầu non

Bao nhiêu sông cái đổ dồn về khơi

Ru con tròn giấc mẹ ngồi

Con lên mười tám mẹ rời chiêm bao

                                           Ngô Kha

Lời bình của Nguyễn Hữu Quý:

Bài thơ chỉ có 4 câu. Mỗi câu mang một hình ảnh sắc thái mục đích diễn đạt khác nhau nhưng đều hướng tới cái chung là nói về tình cảm mẹ con.

Ở hai câu đầu tác giả phác họa ra một không gian rộng lớn với hình ảnh núi và sông. Núi thì: "Sương rơi trắng bạc đầu non". Ta có một hình dung: muôn vàn giọt sương rơi trắng bạc đầu núi. Chắc là sương rơi dày lắm nên mới trắng bạc đầu non.Ta có cảm nhận: những giọt sương núi đã gieo vào lòng mình cái bàng bạc xa xăm của không gian cái chơi vơi thăm thẳm của thời gian và chỉ ngần ấy ngần ấy thôi cũng đã nhắc gợi tới sự dầu dãi của đời người. Sông thì: "Bao nhiêu sông cái đổ dồn về khơi". Không phải một sông đâu mọi dòng sông lớn đều đổ dồn về biển cả. Nhà thơ không dùng từ "lớn" mà là "cái". "Sông cái" vừa diễn tả độ rộng lớn vừa nói được về mẹ. Sông Hồng còn có tên gọi khác là sông Mẹ đó. Ở miền Nam nhiều dòng sông cũng có tên bắt đầu là Cái như sông Cái lớn…Lấy sông cái để ngầm ví với tình yêu bao la của mẹ dành cho con. Như mọi dòng sông lớn  đều đổ dồn nước về biển khơi tất cả tình yêu khát khao của mẹ đều dành cho con. Tình mẫu tử chỉ có thể ví với núi sông không thể nào khác được.

Hai câu cuối nói về mẹ cụ thể và gần gũi lắm nhưng hàm chứa những ý tưởng rộng lớn và sâu sắc. "Ru con tròn giấc mẹ ngồi". Nếu không có từ "tròn giấc" thì hình ảnh mẹ ngồi ru con chỉ mới diễn tả được cái từ thế hành vi của người thôi. "Tròn giấc" trước hết biểu hiện giấc ngủ của trẻ thơ nhưng đằng sau đó là ước mong của mẹ. Mẹ muốn sự yên bình an lành trọn vẹn cho con bây giờ và mai sau. Mẹ mong cho con mạnh khỏe khôn lớn để bước vào đời chững chạc. Mẹ ước cho đời con lành đến dữ đi muốn cho con vuông tròn trong cuộc đời vốn vẫn thường nhiều chông gai trắc trở. Bao nhiêu nhọc nhằn truân chuyên mẹ nhẫn nại gánh gùi vượt qua cũng chỉ để cho con có cuộc sống tốt đẹp hơn.

Giấc chiêm bao của mẹ khi ngồi canh giấc ngủ cho con là thế. Nó nồng ấm biết bao. Bây giờ con mới chỉ là đứa trẻ nằm nôi phải mười tám năm sau nữa con mới trưởng thành. Khoảng thời gian ấy dằng dặc nỗi chờ của mẹ. Trong khoảng thời gian đó biết bao lần "chỗ ướt mẹ nằm bên ráo con lăn" (Ca dao)…Mẹ chờ mong con đến tuổi người lớn tuổi công dân chững chạc bước vào đời: "Con lên mười tám mẹ rời chiêm bao."

alt

Ảnh st trên NET

                                               

More...

Lời ru cháu ngoại

By Sinh ở cuối dòng sông

LỜI RU CHÁU NGOẠI

Cho Miu của Ông Bà

  

Cháu sinh vào đúng năm Mèo

Cái Miu ông cứ gọi theo mẹ mày!

Mùa hè phố biển trắng mây

Nha Trang xanh vịnh nắng hây hây trời.

 

Oa…oa… chỉ có vậy thôi

Mà vui như Tết mà cười như hoa

Bà nhìn ông ông ngắm bà:

Chức này là của cháu ta phong mình !

 

Lời ru viết tặng cháu xinh

Vẫn dòng lục bát của nghìn năm xưa

À…ơ…câu lục làm mưa

Câu bát làm nắng đong đưa mùa màng

 

Gấc chín đỏ lúa chín vàng

Quả sim chín tím ổi làng chín xanh

Tiếng chim ríu rít chín cành

Trái rằm thì chín giữa vành trăng trong

 

Biển là cái chậu mênh mông

Đựng bao nhiêu nước suối sông cũng vừa

Mấy con còng gió say sưa

Viết thơ trên cát mà chưa thành bài…

 

Ngoại ru chỉ vậy lai rai

Lời yêu lóng mốt lóng hai đan vào

Biết đâu đến đoạn cao trào

Lấy bài bộ đội thuở nào hát ru

Cháu thiêm thiếp ông gật gù

Vườn xanh cây lá hát bù cho ông...

 

Ngày cháu chào đời                                          

        28/4/2011

alt


More...

Quán thơ ở cuối dòng sông: Cái roi ngày ấy

By Sinh ở cuối dòng sông

 

CÁI ROI NGÀY ẤY

alt

Ngày nào con nghịch con chơi

Bỏ nhà đi suốt một hơi tối ngày

Làn roi rơi xuống thân gầy

Làm đau tay mẹ làm cay mắt bà

 

Bây giờ con ở đâu xa

Nắm xương không cửa không nhà mãi đi

Trường Sơn một dải xanh rì

Đất đen đất đỏ đất gì chôn con

 

Chân run quờ chiếc gậy mòn

Sợ cầm phải cái roi còn đâu đây.

                                                      Đinh Phạm Thái

Lời bình của Nguyễn Hữu Quý:

Cái roi trở thành “vật trung tâm” kết nối những người thân trong nhà lại với nhau qua một câu chuyện vô cùng xúc động. Câu chuyện nhuốm chất bi thương ấy trải dài suốt cả cuộc đời của một người con trai bắt đầu từ tấm bé đến tuổi thanh niên vào bộ đội và hy sinh ở chiến trường. Câu chuyện ấy chính là hồi ức của người cha về đứa con trai thân thiết của mình bắt đầu từ chiếc roi “dạy” con hồi nhỏ. "Ngày nào con nghịch con chơi/ Bỏ nhà đi suốt một hơi tối ngày/ Làn roi rơi xuống thân gầy/ Làm đau tay mẹ làm cay mắt bà". Đứa trẻ nghịch ngợm ham chơi và ông bố cũng thật nghiêm khắc với con mình. “Thương cho roi cho vọt” là cách dạy con của các ông bố trước đây. Một làn roi rơi xuống tấm thân gầy của con là một nỗi đau của mẹ là một xa xót của bà. Mẹ thương con bà yêu cháu tình cảm máu mủ tự nhiên ấy xưa nay đều vậy. Chỉ bốn câu thơ mà làm nổi bật rõ tính cách của bốn người: bà cha mẹ con. Tính điển hình khái quát rất cao.

Lẽ ra việc “dạy” con bằng roi bằng vọt như thế cũng bình thường thôi không làm cho người cha xót xa ân hận lắm nếu như con vẫn sống và trưởng thành ở trên cõi đời này. Chiến tranh xảy ra chú bé mảnh khảnh mới ngày nào "Bỏ nhà đi suốt một hơi tối ngày" bị cha đánh đòn ấy đã trở thành anh bộ đội và hy sinh vì bom đạn giặc trên dãy Trường Sơn.

Cái chết của người con liệt sĩ được diễn tả rất xúc động qua những câu thơ như chắt ra từ nước mắt: "Bây giờ con ở đâu xa/ Nắm xương không cửa không nhà mãi đi/ Trường Sơn một dải xanh rì/ Đất đen đất đỏ đất gì chôn con". Trong tâm thức của cha mẹ và những người thân con trai mình đang ở đâu đó rất xa không rõ địa chỉ trên Trường Sơn thăm thẳm điệp trùng. Có không ít những người lính của ta hy sinh chưa tìm ra hài cốt hay tìm được nhưng không rõ tuổi tên được gọi là liệt sĩ vô danh. Câu "Đất đen đất đỏ đất gì chôn con" được ngắt ra thành ba nhịp nghe thổn thức như những tiếng nấc nghẹn ngào và lối hỏi tu từ càng làm sâu thêm nỗi đau thương của người còn sống.

Đấy chính là nỗi đau vô hạn của cảnh ngộ "Lá xanh rụng xuống lá vàng trên cây". Bởi vì thế nên khi tuổi già gối mỏi mắt mờ người cha tìm gậy cứ sợ đụng phải chiếc roi dạy con thời xa xưa. "Chân run quờ chiếc gậy mòn/ Sợ cầm phải cái roi còn đâu đây". Cái roi ngày ấy trở thành nỗi ám ảnh hằn sâu những vết  day dứt đau xót của người cha đối với người con trai yêu dấu đã đi vào cõi hư vô.

alt

Ngủ rừng Trường Sơn

Ảnh st trên NET

 

More...

Sự cảnh báo ảm đảm và nóng bỏng

By Sinh ở cuối dòng sông

alt

SỰ CẢNH BÁO ẢM ĐẠM VÀ NÓNG BỎNG

Nguyễn Hữu Quý

Tiểu thuyết đầu tay của nhà lý luận phê bình Đỗ Ngọc Yên mang tên Mạt vận*. Nó là kết quả của sự câu thúc bởi những điều trông thấy mà đau đớn lòng hay mạo hiểm của người cầm bút? Có lẽ cả hai. Cuốn tiểu thuyết luận đề viết theo kiểu hiện thực huyền ảo ít nhiều phảng phất thuyết nhân quả này là hồi chuông cảnh báo ảm đạm và nóng bỏng về thực trạng xuống cấp của đạo đức xã hội Việt Nam hôm nay.

Thời vận gắn với thịnh suy của một quốc gia một dòng họ một gia đình một con người. Quan niệm ấy có từ ngàn xưa. Không còn gì ảm đạm bi ai tăm tối hơn khi một quốc gia một dòng họ một gia đình một con người đã đến hồi mạt vận. Trong tiểu thuyết Đỗ Ngọc Yên kể về sự suy thoái băng hoại xuống dốc của dòng họ Trần vốn danh giá một vùng. Họ Trần ấy đã tới hồi mạt vận và theo như câu chuyện được kể trong tiểu thuyết thì nguyên do của nó chính là sự coi thường tổ tiên ông bà tham lam tiền của ăn chơi bừa bãi trọng nam khinh nữ loạn luân…của con cháu. Gieo gì gặt nấy. Như luật nhân quả đời cha ăn mặn đời con khát nước mẹ hư con hỏng. Con đường tham nhũng hối lộ hằn vệt từ bố sang con trai lối sống đua đòi ăn diện dẫn tới bán rẻ nhân phẩm kéo dài từ mẹ đến con gái…tất thảy quay cuồng nhào trộn trong một xã hội đề cao đồng tiền lối sống thực dụng đã dẫn tới sự suy vong của dòng họ gia đình. Sự cảnh báo ấy thật ảm đạm nhưng cũng nóng bỏng và róng riết xiết bao nếu không kịp chỉnh đốn sửa chữa để phục thiện để gạn đục khơi trong thì nguy hại muôn vàn.

Thời đoạn mạt vận của dòng họ Trần là điểm tập kết của những hành trình suy thoái đạo đức nhân cách của một số thành viên trong đó. Bắt đầu từ ông Hoằng vị thứ trưởng tham nhũng bị dính vô vòng lao lý mà theo lời kết tội của hồn ma cụ tổ chín đời họ Trần là: Mê mải theo đường quan lộ mà quên hết dòng tộc đạo lý làm người. Giàu lên nhờ những đồng tiền tham nhũng vị thứ trưởng này định tạ ơn tổ tiên bằng việc phá từ đường cũ để xây lại từ đường mới khang trang đẹp đẽ. Khi làm công chuyện hệ trọng đó ông ta không thèm mời thầy xem phong thủy ngày giờ không chọn thợ và đúng lúc động thổ đào móng thì vợ ngã lăn ra chết nhưng vị thứ trưởng vẫn không cho dừng lại mà vẫn tiếp tục. Chuyện trần gian và chuyện tâm linh được trộn lẫn ở đây không nhằm cổ súy mê tín dị đoan mà chỉ là những mách bảo nhắc nhở về đạo lý làm người.

Thế hệ tiếp theo con trai ông Hoằng là Trần Thành tổng giám đốc một công ty xây dựng có hàng ngàn nhân công có hàng nghìn tỉ đồng tiền vốn. Thành có người vợ hiền lành cam chịu là Thu Hiền và hai cô con gái xinh đẹp là Thành Hà Thanh Hằng. Giá như Trần Thành là một cán bộ liêm khiết và biết dừng lại đúng lúc đúng chỗ không xem chuyện phải có một đứa con trai cho cái dòng họ Trần khỏi bị xóa sổ ở vùng này mới là chuyện hệ trọng bậc nhất cần phải quan tâm và đã đi tìm một cô gái đẻ thuê cho mình một quý tử thì mọi chuyện chắc sẽ khác. Những rối ren bi kịch gia đình dòng họ chắc không thể xảy ra sau đó. Không có việc anh quyết định thuê một cô em gái họ cận huyết thống để sinh ra một đứa bé trai có cái mặt ngoảnh về phía sau quay lưng lại với đời; chỉ sống được gần một năm rưỡi trên đời thì vừa bú xong tự nhiên giật đùng đùng co dúm người lại khóc ré lên rồi tắt thở. Chẳng có chuyện đứa con gái đầu của anh nữ sinh Thanh Hà rủ bè bạn tìm đến Mỹ Đình đánh tơi tả tình nhân – hay đúng hơn là người đẻ thuê cho bố sau đó trốn qua Trung Quốc và bị biến thành gái mại dâm rồi trở thành vợ lẽ của lão già người dân tộc Choang tên là Lý Lam. Cái giá phải trả của Trần Thành ngoài những quả đắng ấy còn bị thư ký riêng tống đơn kiện và bị bắt giữ để điều tra về việc có dấu hiệu tham nhũng chiếm dụng tiền và tài sản khu dự án đô thị mới và tội hối lộ. Cuối cùng anh đã bị bắt giữ để điều tra.

Thực ra thì câu chuyện mạt vận suy vi của dòng họ Trần được dựng lên trong tiểu thuyết lại bắt đầu từ nhân vật chính Thảo Phương nữ sinh Trường trung cấp Thương mại – Du lịch. Đó là cô gái sinh ra ở vùng rừng Ngày đầu tựu trường làm thủ tục nhập học…ngơ ngác như một con dê con vừa từ trên núi xuống…Học hết năm thứ nhất mà Thảo Phương vẫn còn ngơ ngác lắm nhưng  nếu có ai mặc bộ quần áo đẹp là cô nhận ra ngay và xấn đến làm quen. Uất ức vì câu nói khinh bỉ của một đồng môn có mẹ bán hàng tạp hóa ở chợ Đồng Xuân Rõ là một lũ nhà quê mà Thảo Phương quyết chí trả thù đời. Có lẽ sự tha hóa về đạo đức nhân phẩm của cô gái này bắt đầu từ suy nghĩ: Học hành bằng cấp làm cái quái gì. Nhiều chữ ở trong đầu ai biết. Cứ ăn mặc những bộ đồ đẹp và đắt tiền là có giá ngày. Với quan niệm đó Thảo Phương bỏ bê học hành tự biến mình thành một loại điếm cao cấp mắc từ sai lầm này đến sai lầm khác mà đỉnh điểm của quá trình băng hoại nhân phẩm là chấp nhận đẻ thuê cho Trần Thành và sau một cuộc ăn uống say sưa trở về phòng trọ đã tự thỏa mãn dục tính bằng cái ấy của em trai mình. Cô gái này chưa trả thù được ai đã bị đời cho bao quả đắng bị đánh ghen bỏ học sống chui lủi sinh con dị tật chết sớm và cuối cùng trở thành một kẻ tâm thần thân tàn ma dại. Bi đát hơn người nhờ cô đẻ thuê Trần Thành chính là anh họ ba đời của cô. Nói thêm thế hệ trước Thảo Phương mẹ cô cũng đã từng mang cái đáng giá ngàn vàng đi bán cho lão cán bộ cung tiêu của hợp tác xã lấy hai yến thóc may cái áo phin nõn mỏng tang.

Ngôi từ đường mà nguyên thứ trưởng Trần Hoằng xây lên bằng đồng tiền tham nhũng cuối cùng cũng bị lửa thiêu cháy xạm đen. Cứ như là tiền định vậy ngọn lửa thiêu cháy từ đường lại khởi phát từ những bát hương. Thế là đã đủ cho ta hình dung về sự mạt vận của một dòng họ từng chói ngời danh giá. Tiền của không là tất cả không là trên hết. Mà để bảo tồn phát triển dòng họ gia đình cái chính là nhân đức sự tử tế của con người. Thông điệp ấy lại thêm lần nữa khẳng định trong tiểu thuyết của Đỗ Ngọc Yên.

Một không khí u ám ảm đảm bao trùm lên hơn bốn trăm trang tiểu thuyết với những xấu xa nhơ bẩn có thật trong xã hội Việt Nam đương đại. Một ít đốm sáng như Thu Hiền Miềng hầu như chưa đủ sức làm ấm áp tình người trong đó. Phải nói Đỗ Ngọc Yên đã khá vững tay trong dàn dựng cốt truyện nhân vật. Nhiều mối quan hệ đan xen nhau nhưng không bị rối trái lại mạch chuyện đã được khai triển khá hợp lý thoáng đạt tương đối hấp dẫn người đọc. Cảm giác như quá trình viết tiểu thuyết này Đỗ Ngọc Yên cố gắng tìm cách trả lời câu hỏi: Tại sao mạt vận? Sự từng trải nắm bắt hiện thực và những kiến thức xã hội của tác giả được thể hiện khá rõ trong tiểu thuyết. Tuy nhiên đây vừa là điểm mạnh cũng là điểm yếu của anh trong sách có nhiều trang qua các nhân vật tác giả say sưa thuyết trình về lịch sử văn hóa triết học.... Và ta có cảm giác đấy không phải là khẩu ngữ kiến thức của họ. Hình như có sự lệch pha giữa nhân vật và phát ngôn của họ. Chất huyền ảo như một lựa chọn để tác giả gửi gắm vào tiểu thuyết những chiêm nghiệm tâm linh nhưng theo tôi chưa thành công mấy vì nó còn lộ liễu thô tháp quá và đương nhiên chưa tạo ra được ma mị chập chờn mê dụ bạn đọc vào sương khói miên man. Vững vàng trong dựng chuyện nhưng lại chưa thiện nghệ trong xây đắp nhân vật nhất là phân tích nội tâm và ít có chi tiết làm ta ám ảnh. Đòi hỏi ở anh như thế thật cao nhất là với một cuốn tiểu thuyết đầu tay vì đâu dễ có được một Chí Phèo của Nam Cao Xuân tóc đỏ của Vũ Trọng Phụng Chị Dậu của Ngô Tất Tố Giang Minh Sài của Lê Lựu…

Nhưng Mạt vận dù sao cũng đã chứng tỏ sự cố gắng trong một bước ngoặt sáng tạo văn chương của Đỗ Ngọc Yên. Ít nhất thì đó cũng là một hồi chuông cảnh báo ảm đạm và nóng bỏng về sự xuống cấp của đạo đức xã hội. Và hình như anh còn muốn viết thêm một tiểu thuyết nữa về xã hội Việt Nam đương thời. Tôi hy vọng anh sẽ khá hơn…

                                                                                                                Đồng Xa cuối tháng 4 năm 2011

 

--------

* Mạt vận NXB Thời đại H.2011.

More...