Với tác giả "Cửa mở"...
nguyenhuuquy | 26 January, 2010 09:52
VỚI TÁC GIẢ "CỬA MỞ"
Nguyễn Hữu Quý
Từ trước tới nay, tôi cứ tưởng bác Việt Phương đã là hội viên kỳ cựu của Hội Nhà văn Việt Nam. Thú thực, tôi rất bất ngờ khi biết nhà thơ nổi tiếng Việt Phương là 1 trong 40 tân hội viên của Hội Nhà văn Việt Nam năm 2009 này. Xin chúc mừng bác - nhà thơ Việt Phương, tác giả của Cửa mở lừng lẫy trong cả nước từ những năm 60 của thế kỷ XX.
Thời bác làm thơ hay tôi vẫn là con nít. Dẫu vậy, ở tít trong Quảng Bình tuyến lửa bom đạn mịt mù bọn con nít như tôi vẫn được nghe những câu thơ là lạ từ miệng người lớn úp mở đọc ra: Ta nhất quyết đồng hồ Liên Xô tốt hơn đồng hồ Thụy Sĩ / Hình như đấy là niềm tin, ý chí và tự hào / Mường tượng rằng trăng Trung Quốc tròn hơn trăng nước Mỹ / Sự thơ ngây đẹp tuyệt vời và ngờ nghệch làm sao. Thời ấy, hình như người lớn xì xào rằng cái ông Việt Phương ấy phản động. Có làm sao mới chê ta thơ ngây và ngờ nghệch chứ!...Thời ấy, ở Việt Nam mình rất, rất nhiều người coi thơ bác Tố Hữu là nhất. Buồn cười là có những bài thơ đọc lên rất khoái nhưng mọi người không biết tác giả là ai cuối cùng cứ gán cho bác Tố Hữu hết. Chúng tôi được dạy:Tố Hữu là lá cờ đầu của thi ca cách mạng Việt Nam và không cứ gì người lớn, bọn học trò thuộc rất nhiều thơ bác. Thơ Tố Hữu thật dễ hiểu, dễ thuộc nên tôi đọc vanh vách những Ba mươi năm đời ta có Đảng, Hoan hô chiến sĩ Điện Biên, Ta đi tới, Chào xuân 68...không lấy gì làm khó khăn lắm. Thơ bác Việt Phương, thời ấy hình như không được lưu truyền rộng rãi, người ta đọc trộm cho nhau nghe và qua nét mặt của người lớn tôi nhận ra trong đó có cái gì rất nghiêm trọng. Nó không giống những vần thơ ngợi ca thời đại hùng tráng mà chúng tôi thường đọc say sưa như: Hỡi sông Hồng tiếng hát bốn nghìn năm / Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng? / -Chưa đâu! Và ngay cả trong những ngày đẹp nhất / Khi Nguyễn Trãi làm thơ và đánh giặc, / Nguyễn Du viết Kiều, đất nước hóa thành văn, / Khi Nguyễn Huệ cưỡi voi vào cửa Bắc, / Hưng Đạo diệt quân Nguyên trên sóng Bạch Đằng...(Thơ Chế Lan Viên) hay: Có gì đẹp trên đời hơn thế / Người yêu người sống để yêu nhau / Đảng cho ta trái tim giàu / Thẳng lưng mà bước, ngẩng đầu mà bay / Đời vui đó hôm nay mở cửa / Như dãy hàng bách hóa của ta...(Thơ Tố Hữu ) . Nói tóm lại, cảm nhận của chúng tôi thời ấy, tuy còn lờ mờ là bác Việt Phương có cái gì đó không bình thường. Chao ôi, phải đến bốn mươi năm sau tôi mới được tiếp nhận khá trọn vẹn và đầy đủ cái trung thực chân thành cũng là tình yêu vô cùng sâu sắc với Đảng, chế độ, đất nước này của nhà thơ Việt Phương từ sự không bình thường ấy của bác.
Cảm nhận hôm nay của tôi về thơ Việt Phương xin được nói sau, giờ xin được kể lại một chút kỷ niệm còn chưa lâu lắm của tôi với tác giả Cửa mở. Ngày thơ Việt Nam - Nguyên Tiêu năm Kỷ Sửu 2009 - Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam Hữu Thỉnh muốn bài thơ Muôn vàn tình thân yêu trùm lên khắp quê hương của Việt Phương được đọc ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Hà Nội. Không có gì hay hơn và tốt hơn là tác phẩm nổi tiếng ấy được chính tác giả đọc. Nhưng nhà thơ Hữu Thỉnh sợ bác Việt Phương tuổi cao sức yếu khó đọc tốt bài thơ khá dài này. Ban tổ chức họp đề ra 2 phương án, một là nhờ nghệ sĩ trình diễn, hai là để một nhà thơ thế hệ sau đọc. Phương án hai được thông qua và tôi đã được nhà thơ Hữu Thỉnh giao nhiệm vụ đọc tác phẩm Muôn vàn tình thân yêu trùm lên khắp quê hương. Tôi gặp riêng Việt Phương, nói ý định của ban tổ chức và xin ý kiến của bác. Nhà thơ vui vẻ đồng ý.
Có lẽ, còn lâu hoặc không bao giờ tôi quên đi cảm giác lâng lâng xúc động trong Ngày thơ Việt Nam ấy. Trước hàng nghìn nhà thơ và người yêu thơ ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám, sau lời giới thiệu rất tình cảm của bác Việt Phương bài Muôn vàn tình thân yêu trùm lên khắp quê hương đã vang lên qua giọng đọc của tôi. Tất cả chìm trong im lặng. Tình cảm và ý tưởng của bài thơ đã được truyền đến người nghe. Tôi biết, tôi không có kỹ thuật trình diễn của các nghệ sĩ, tôi chỉ đọc bằng trái tim mình qua chất giọng Quảng Bình mộc mạc mà quê hương và mẹ yêu dấu đã cho tôi. Tôi bị cảm xúc của bài thơ cuốn đi, dạt dào và tha thiết, sâu lắng và rưng rưng: Bác không bằng lòng gọi trận đánh chết nhiều người là đánh đẹp / Con xóa chữ đẹp đi như xóa sự cạn hẹp trong lòng con / Thêm hiểu lòng Người đối với quân thù như sắt thép / Mà tình thương mênh mông ôm hết mọi linh hồn. Tôi nghĩ rằng những câu thơ như thế sẽ sống và mới rất lâu. Chẳng chút gì gọi là cầu kỳ, rối rắm; giản dị đến tận cùng, chính xác đến tận cùng và sự xúc động cũng vô cùng mãnh liệt.
Tôi sẽ khó quên hơi ấm trong vòng tay của nhà thơ tài hoa và nhân ái ấy. Việt Phương ôm chặt tôi như thể cha ôm con vậy. Và, cuốn Cửa mở với dòng chữ: Thân ái tặng bạn Nguyễn Hữu Quý / Ngày 9 tháng 2 năm 2009 / Nguyên Tiêu Kỷ Sửu cùng chữ ký của Việt Phương đã là kỷ vật quý giá trong nhà tôi. Tôi biết tôi đã diễn đạt được tình cảm đối với Bác Hồ kình yêu mà nhà thơ Việt Phương đã gửi gắm trong tác phẩm.
Có lẽ, sau Nguyên Tiêu Kỷ Sửu 2009 đáng nhớ ấy, tôi có cơ hội cảm nhận sâu hơn cái hay cái đẹp trong thơ Việt Phương. Ánh sáng minh triết và lòng nhân ái quấn quyện trong thơ ông không ít. Đọc, sẽ thấy rất rõ một thi sĩ Việt Phương yêu đời, yêu người thắm thiết: Đất được mùa hoa, ta mùa đời / Mỗi lòng thơm tỏa một hương vui / Như người ươm hạt yêu quả chín / Đi suốt đường hoa, chỉ ngắm người ( Chợ hoa ngày Tết - viết năm 1963). Đọc, sẽ thấy một đảng viên cộng sản chân chính: Cứ đêm đêm, ta lại xét kết nạp ta vào Đảng / Thời gian nâng đòi hỏi mãi cao thêm / Đến trọn đời, từng giờ là cộng sản / Những nỗi đau ta cũng sáng búa liềm ( Tâm sự đảng viên - 1963). Đọc, sẽ thấy một nhân cách đáng kính bởi sự trung thực và một trí tuệ đáng trọng bởi có cái nhìn cuộc sống thật biện chứng: Năm xưa ta vô tình tô đẹp cuộc đời để mà tin / Nay ta càng thêm tin mà không cần tô gì nữa cả / Quen thuộc rồi mọi bất ngờ kỳ lạ / Ta đã trả giá đau và ta đã học nhìn. (Cuộc đời yêu nhu vợ của ta ơi -viết năm 1969)
Thế đấy, một người có những bài thơ, câu thơ xuất sắc như thế từ những năm 1963, 1969 mà nay mới cầm tấm thẻ Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Nó hơi khác thường nhưng theo tôi là một điềm đẹp, đẹp và lành cho tác giả Cửa mở và cho cả chúng ta những anh em thân thiết trong Ngôi Nhà có tên gọi Hội Nhà Văn Việt Nam.
Đêm 25 tháng 1 năm 2010,
Ký ức Lính: Em tên là Khái
nguyenhuuquy | 25 January, 2010 09:39
EM TÊN LÀ KHÁI
Thanh Khê
Suýt nữa thì em không thuộc về tôi. Người yêu dấu của tôi bây giờ cách đây hai mươi năm về trước là một cô giáo ở trường tiểu học Mò Ó, miền tây Quảng Trị. Chúng tôi gặp nhau trong đợt đơn vị đi dã ngoại giúp dân khắc phục hậu quả sau trận lũ lịch sử ở vùng đất này. Ngôi trường em dạy bị lũ tàn phá nặng nề, những mảng tường xây đổ vỡ, bàn ghế sách vở bị cuốn trôi gần hết. Dù bị cuốn theo công việc bộn bề, những chàng sĩ quan và lính trẻ vẫn không thể không để mắt tới các cô giáo cắm bản, quần xắn tới gối đang dọn dẹp nhà cửa bên cạnh. Một đôi mắt hướng về tôi. Đen và dài. Giữa ngổn ngang bùn đất, đá sỏi tôi bàng hoàng trước khuôn mặt trái xoan đang ửng hồng lên với đôi lúm đồng tiền xoay xoay trên má. Tôi đến bên, này em, có việc gì để bọn anh làm giúp cho. Lúm đồng tiền xoáy sâu hơn, bộ đội các anh làm nhiều việc nặng nhọc vất vả rồi, còn lại để bọn em tuổi nhỏ làm việc nhỏ tuỳ theo sức của mình. Giọng cô giáo khác, anh muốn làm giúp cho nó suốt đời không? Út Hổ đang cần một cánh rừng che chở đấy. Tôi có nghe nhầm không nhỉ, em tên là Hổ, con gái mà có cái tên rừng rú thế à. Nhưng, với một thằng con trai tuổi hai lăm thanh tân như tôi thì sự hấp dẫn của người con gái nằm ở những đường nét thanh tú của khuôn mặt, cái eo thắt mềm mại của vóc dáng chứ đâu ở cái tên. Tên em là Hổ là Báo hay Khủng Long gì gì đi nữa cũng chẳng ngăn được sự cuốn hút tôi khi em xinh đẹp đến dường vậy. Tôi cười, Hổ ơi, anh xin trả lời câu hỏi bạn em đây, nếu em nhất trí anh sẵn sàng làm giúp em suốt đời. Mấy cô giáo cười nghiêng ngã. Em cũng thế, vừa cười vừa đấm thùm thụp vào vai bạn mình. Tôi linh cảm mình đã bị các cô giáo trêu và hình như mấy chiến sĩ của tôi cũng đoán ra thế, tất cả à lên, chết rồi trung đội trưởng xinh giai bị các cô giáo cho ăn quả lừa rồi. Bạn em, vẫn cô giáo mặt tròn như trăng rằm đó, đáp trả, đừng nói thế oan cho bọn em, không tin thì anh cứ hỏi người đẹp ấy. Tôi nhìn vào mắt em nhẹ nhàng hỏi, này có phải tên em là thế không? Hình như có một nét cười trong ánh mắt lay láy nhìn tôi, trung uý ơi tên em cũng gần gần như rứa đó. Cô giáo mặt tròn tiếp lời bạn, thôi không đùa anh nữa, nó tên là Khái, mà quê chúng em Hổ cũng gọi là Khái đó anh ạ. Trời đất, nghịch đến thế là cùng, theo anh nên chữa lại câu nhất quỷ, nhì ma, thứ ba học trò thành nhất quỷ, nhì ma, thứ ba cô giáo, tôi phản công lại các cô giáo trước sự đồng tình cao của cánh lính trẻ măng. Đúng thế, hổ ở quê tôi cũng gọi là khái hay cọp; dân gian còn dùng từ ông ba mươi để chỉ vị chúa sơn lâm đầy sức mạnh này.
Nếu câu chuyện chỉ dừng ở đó thì tôi chắc chẳng có gì để kể ra với các bạn. Xoay quanh cái tên Khái của em còn có những rắc rối khác. Sau lần đi giúp dân đó tôi và em đã trở thành người thân của nhau. Như các nhà văn hay ví thì tiếng sét ái tình đã nổ ra từ ánh nhìn đầu tiên của hai đứa. Mảnh đất Mò Ó xa xôi đã trở thành địa chỉ xanh vô cùng thân thiết và gần gũi đối với tôi. Chúng tôi ít được gặp nhau, nhưng thư từ thì tuần nào cũng có. Vài tháng tôi xin phép đơn vị lên thăm em một lần vào ngày thứ bảy. Những thứ bảy ấy là khoảng thời gian tuyệt vời của chúng tôi. Bên bếp lửa hồng, em và tôi cùng nướng những bắp ngô rẫy vàng ruội, thơm phức. Vết nhọ vương lên má em cũng trở thành một hình ảnh đẹp in đậm trong tim tôi. Chúng tôi đưa nhau vào rừng hái măng, hái nấm. Những cánh rừng già của đại ngàn Trường Sơn rì rào, lao xao che chở chúng tôi. Con suối trong vắt chảy bên rìa bản soi bóng em và tôi những chiều vợi nắng. Học sinh của em, những cô bé, chú bé người Vân Kiều, Tà Ôi mỗi lần trông thấy chúng tôi đều giơ tay vẫy vẫy, ô ô cô miềng đi với chú bộ đội đẹp hung, đẹp hung. Bạn bè cùng dạy với em ai cũng khen chúng tôi đẹp đôi và đều vun vén vào cho hai đứa. Có đêm nắm tay nhau đi trong làn sương lãng đãng, nghe tiếng chim từ quy gọi nhau da diết vọng về từ cánh rừng trăng tôi và em thấy không ai hạnh phúc bằng mình. Tôi nghĩ, cuộc đời này không ai có thể thay thế được em, không một sức mạnh nào có thể ngăn cản chia lìa nổi hai người. Tôi và em hẹn nhau ngày về thăm nhà, để thưa chuyện của mình với bố mẹ. Quên, chưa kể, em đã đôi lần về thăm tôi ở đơn vị. Đại đội đã biết chuyện của chúng tôi, C. trưởng Trần Đăng Khoa chưa chi đã tuyên bố, hai em cưới nhau anh sẽ nhận làm vai chủ hôn. Em thực sự là nguồn thơ dịu mát của tôi. Tôi đã từng làm thơ tặng em và tác phẩm của thi sĩ đại đội ấy đã được công bố trên tờ báo tường Xung phong của đơn vị. Thơ như thế này: Em về còn để lại hương / Căn phòng nho nhỏ vấn vương hơi người / Vẫn còn thơm tóc, thơm môi/Thơm mắt lay láy, thơm cười lung linh/ Em về còn để lại xinh/ Cho tôi lấy nhớ xếp hình người yêu /Thương bao nhiêu, nhớ bao nhiêu / Mà sông mắc cạn cuối chiều khuyết trăng / Em về còn để bâng khuâng / Giấc mơ tôi gặp dáng xuân gần kề / Bồng bềnh đêm sóng đam mê / Sóng xanh như cỏ bờ đê hôm nào / Em về còn để lao xao / Lời thương nhè nhẹ bay vào ban mai / Ơ kìa mưa đã giêng hai / Se se rét lộc, rét đài...Về em
Ấy chết, cứ say đắm miên man kể chuyện nọ xỏ chuyện kia không đi vào vấn đề chính làm các bạn sốt ruột. Tôi nói ngay luôn đây, cái sự rắc rối ấy lại bắt đầu từ mẹ tôi. Mẹ tôi hiền lành và thương con rất mực. Nhà tôi có hai chị em; chị Luyến đã lấy chồng và hiện nay sống ở Hà Nội. Bố tôi là liệt sĩ thời đánh Mỹ, mẹ ở vậy vò võ nuôi dạy chị em tôi thành người. Tôi, từ bé và có lẽ mãi mãi vẫn là thằng Cu Khê, cục cưng của mẹ. Khi thằng Cu Khê đã thành sĩ quan quân đội rồi mẹ vẫn chăm chút cưng nựng tôi như thuở học trò. Con đau mẹ xót, khi nghe tin tôi bị sốt rét, mẹ không quản đường xa, tay nải tay bị vào đơn vị chăm sóc tôi. Thế mà, khi nghe tôi thưa chuyện về em mẹ đã ngại ngần không chấp nhận. Không phải vì em không xinh, không ngoan hiền mà chỉ tại cái tên của em. Nghe tôi nói tên em, mẹ tỏ ra ngần ngừ ,con gái mà tên Khái à, chắc là nó sinh vào năm Hổ nên bố mẹ đặt cho tên đó; con gái tuổi Hổ, tuổi Dần, không dễ dạy bảo đâu con ạ. Tôi cãi mẹ, mẹ đừng phong kiến thế, tuổi tác đâu quyết định được hạnh phúc của hai người, con thấy Khái rất hiền lành, chăm chỉ mẹ ạ. Mẹ vẫn không lùi bước, Khê à, con gái tuổi Dần cao số lắm, thương con, lo cho hạnh phúc sau này của con mẹ mới nói thế... Mẹ chịu khổ quá nhiều rồi, tôi không muốn chất thêm những buồn đau vào người mình yêu quý nữa. Tôi im lặng. Nhưng rất buồn. Và không dám kể lại với em những điều mẹ nói.
Thấy tôi tự nhiên đổi tính, buồn rầu đại đội trưởng Trần Đăng Khoa gặng hỏi. Lâu nay tôi vẫn xem anh là người thân nên đã kể hết với anh chuyện ấy. Anh cười to, thằng ngốc, thế sao mày không đi tìm hiểu xem tại sao cô ấy có cái tên như thế, biết đâu là nó chẳng liên quan gì đến tuổi tác mà chỉ ghi dấu một kỉ niệm gì đó của bố mẹ Khái thì sao.
Thưa các bạn, tôi đúng là thằng ngốc thật; sau khi tìm hiểu ra thì cái tên Khái ấy chẳng liên quan gì tới năm sinh của em. Thực ra thì em sinh vào năm Hợi và cái tên Khái đúng là gắn với một kỷ niệm của bố em. Ông là bố đội lái xe Trường Sơn thời đánh Mỹ. Giáp Tết, trong một lần lái xe ra Bắc, qua ánh đèn gầm ông thấy có một vật to lớn đang ngồi lù lù như cái chum giữa đường. Còi mấy, cái vật ấy vẫn không hề nhúc nhích. Sinh nghi, ông dừng xe, tay cầm khẩu AK bước xuống rồi tiến lại gần. Mười mét, năm mét rồi hai mét. Linh tính mách bảo cho ông có gì đó nguy hiểm, ông lùi lại, giơ súng lên trời điểm xạ hai viên. Vu...vút...vút. Một luồng gió mạnh cuộn lến kèm theo mùi hôi nồng nặc lan toả. Trời ơi. Hổ. Một con hổ bằng xương bằng thịt đang vụt phóng vào rừng. Hú hồn, tí nữa thì ông đã giáp mặt với ông ba mươi. Trong lần đi ấy ông được ghé về nhà một đêm và sau chín tháng mười ngày mẹ đã sinh ra em. Ông vốn là người tinh nghịch nên khi vợ viết thư hỏi đặt tên cho con gái là gì thì người lính lái xe âý trả lời rằng: Tên nó là Khái, Khái là Hổ, em biết chưa, đặt thế để ghi dấu một kỉ niệm Trường Sơn của anh. Biết được chuyện ấy, mẹ tôi mừng, mừng lắm, người giục tôi mau mau bàn với Khái để mẹ đến thưa chuyện với gia đình em xin làm đám hỏi đám cưới. Tôi dám chắc rằng chưa có mẹ chồng nàng dâu nào sống hoà hợp với nhau như mẹ tôi và em. Mỗi lần nhắc lại chuyện xưa, mẹ tôi lại âu yếm nói với em, suýt nữa thì mẹ không có được nàng dâu đẹp người, đẹp nết như con, Khái ạ. Em ôm mẹ, dịu dàng cười, do ông Trời sắp đặt cả mẹ ạ. Đôi lúm đồng tiền trên má em xoay xoay, xoay xoay. Yêu quá!
Hạ thủy những giấc mơ
nguyenhuuquy | 18 January, 2010 07:31
Nguyễn Hữu Quý
HẠ THỦY NHỮNG GIẤC MƠ
Trích
1
Chim Lạc xoãi cánh về Đông
phía mặt trời lên là bao la biển
tổ tông tôi tắm mặn từ nguyên thủy
những tượng hình từ sóng vút lên
Biển
hạ thủy những giấc mơ đầu tiên
và những khát khao dong buồm vượt sóng
lấm láp bơi trên thời gian thăm thẳm
sấp ngửa
ru nhau
mặn muối cay gừng
À ơ...
muối mặn gừng cay
một nửa ca dao đất nước tôi là biển
thủy triều vơi đầy lục bát
những hải lưu sáu tám chở vui buồn
Xoay nhịp trống đồng
gõ vang sấm biển
chớp bão khơi xa nhay nháy canh gà
có khuya khoắt ao làng sóng nổi
canh gió đồng ướt sũng nghìn năm
Nghìn năm
ánh chớp thiên hà
bao máu đổ mới thành hồn Việt
kẽo kẹt kẽo cà mái tranh vách đất
bóng sông in trên mỗi đấu chiêm mùa
Lang Liêu ở rừng, An Tiêm ở biển
cổ tích ngược xuôi theo những con thuyền
tôi hiểu vì sao chuyện cổ thường có hậu
dân tộc tôi hạ thủy giấc bình yên
Quả trứng hồng nở ra ban mai
nghìn năm ò ó o góc biển
hạ thủy tấm chiếu son trên sóng
đây thuyền đây bến, này vợ này chồng
Hạt gieo giữa mênh mông
có ngày thành quả ngọt
hoang vu thành xóm mạc
sum vầy lộng khơi
Hạt giống thành cây, san hô thành đảo
đảo thành Tổ quốc linh thiêng
mẹ đặt tên cho con
đất nước đặt tên cho đảo
đảo và con đều dòng giống Lạc Hồng!
Bên tâm bão con thuyền neo bán đảo
thiên kỷ nào cũng hướng biển Đông
nước mắt thành sông
sông thành biển mặn
mẹ là quê ngóng đợi cha về
Xin được gọi Hoàng Sa, Trường Sa như thế
dấu ông cha in cát đắng bao đời
người trấn giữ còn lưu tên tuổi
ròng ròng gia phả Lý Sơn...
Gia phả
ròng ròng
máu son
mấy trăm năm còn tươi sắcViệt
mộ gió mang hồn người đã khuất
cát sinh tồn thiêng liêng!
Vọng mai sau tiếng chèo cắt sóng
và cánh buồm chửa gió phồng căng
hải trình xưa chấm sao còn lấp lánh
đảo không còn vô danh...
2
Nhập ngũ
chàng binh nhì của biển
đêm đầu tiên gối sóng nao nao
con tàu phóng lôi neo vào vằng vặc
quân cảng tròn mười tám
Tuổi em.
Tuổi của Tiên Dung gặp Chử Đồng Tử trên bãi Tự nhiên thời biển còn hoang vắng
lau sậy vi vu, cát mịn chở che người
khỏa thân
dựng chiếc nón Trời
giông mưa cũng chấp, bão đời cũng cam
Hạ thủy giấc mơ xanh
chia tay những nàng tiên cá
con tàu bay về miền rơm rạ
đậu xuống ao làng
bóng mẹ áo xanh, bóng em áo trắng
biển của tôi xanh - trắng mơ màng...
Xin chào nhé mùa hè thánh thót
trên tay em con thuyền giấy thả mưa
tôi hạ thủy cầu vồng
xuống nơi từng là biển
bảy sắc lung linh vương miện
trên đầu thiếu nữ phù sa
lính biển chiều em
Bài ca Hải đội.
Đi hết sông Mưa
con thuyền về bến Nắng
biển như tôi xanh đến ngẩn ngơ lòng
em có nghe cánh buồm lĩnh xướng
trong vầng mây cổ tích trắng lưng trời?
*
Trở về quân cảng trước bình minh
đứng nghiêm chào Tổ quốc
ngọt ngào môi tôi giấc mơ đêm trước
ngọt - ngào - biển
ngọt -ngào - em...
3
Khái niệm biển mở ra
rộng hơn bài địa lý thầy đã dạy
khi trên vai tôi có linh hồn đồng đội.
Trong mơ các anh về
từ những con tàu đã ngủ yên dưới đáy biển
phục sinh bấy nhiêu quên lãng
nơi bao loài thủy tộc thân quen
trục vớt lên
những hành trình không tên, không số
những hành trình nương vào bão tố
để che mắt quân thù
trục vớt lên những mùa hè
trái tim nổ tung núi lửa
trục vớt lên những mùa thu
lỗ chỗ vết đạn găm
trục vớt lên những mùa đông
lặng im cảm tử
những mùa xuân không hoa đào nở
ngổn ngang trời, ngổn ngang biển mây bay
Biển
bảo tàng chưa ai đặt tên
nghĩa trang chưa ai đặt tên
những kỷ vật vô danh chìm khuất
đáy đại dương chật vật
những cuộc hồi sinh không hương khói đi kèm
Trong mơ các anh về
có cặp mắt chưa được làm đàn ông thẩn thờ
có đôi môi chưa một lần hôn, tím tái
có cánh tay chưa được ôm choàng bồng bế thỏng vào đêm
có bờ vai chưa được công kênh trẻ con rì rào chảy...
Biển tồn tại những cánh đồng lỡ vụ
những dòng sông nhật thực đổ qua ngày
những khoảng trời vắng mây
những mái nhà không lửa
những con đường cạn gió hong phơi
Hạ thủy những chưng cất mùa màng mới
men đồng quê ủ sau lũy tre làng
rót vào biển mặn
những dòng mưa ký thác của đất liền
Mưa không còn ướt nữa
dư âm trôi trên sóng bạc đầu
đi về đâu
linh hồn biển?
Hạ thủy xuống hoàng hôn hải phận đỏ sắc cờ
mỗi người lính hi sinh một lá cờ trong biển
bay xiết hải lưu nóng - lạnh
phấp phới thềm lục địa
những linh hồn quấn Tổ quốc
định danh
cũng có thể vô danh hòa vào biển
lãnh hải mênh mông
những vô hình cắm mốc biển Đông!
Trong mơ tôi thấy rõ những vô hình
như em thấy rõ từng nốt nhạc
những phím sóng trên cây đàn biển
bật lên
ngân lên
cung bậc trầm hùng.
Hạ thủy từng lớp cắt mù sương
lọc lấy những âm thanh thời tàn khốc
tín hiệu gửi đất liền lúc lâm chung vĩnh biệt
Ai? Và ai, chưa được trở về?
Ai? Và ai, chưa được lắng nghe?
tiếng trẻ u oa sau dậu cúc tần và bờ tre thôn ổ
tiếng hạt mầm tách vỏ
giọt sương rớt trên áo mẹ
cơn mưa chiều rẽ lối về em
mưa vừa rơi vừa mặn
trên vọng phu không hóa đá của làng!
Hạ thủy vầng trăng khuyết
như một chuyến đò buồn
chở cánh đồng góa bụa
đi về nơi biển xanh...
Quan họ, người ơi...
nguyenhuuquy | 09 January, 2010 08:38
QUAN HỌ, NGƯỜI ƠI...
Nguyễn Hữu Quý
Tôi sinh ra và lớn lên ở Quảng Bình, xứ sở của gió lào cát trắng nhưng từ lâu đã đắm đuối quan họ. Thời chiến tranh chống Mỹ, bộ đội vào Nam đánh giặc (gọi là đi B) không thể không hành quân qua tỉnh tôi. Lúc ấy, tôi còn đang tuổi học trò, áo vá chân đất đến trường dưới tầm bom đạn Mỹ. Xã Cự Nẫm thuộc huyện Bố Trạch quê tôi là một trong những nơi dừng chân của bộ đội ta trước khi vào chiến trường. Trong thời gian học cấp 3 ở đây tôi có quen một chú bộ đội tên là Cầu quê ở Hà Bắc. Chúng tôi quen nhau chỉ được mấy ngày thôi nhưng khoảng thời gian ngắn ngủi ấy cũng đủ để cho tôi chép mấy bài thơ của Phạm Tiến Duật vào sổ tay của chú và chú ấy dạy tôi vài bài quan họ như Cây trúc xinh, Người ở đừng về...Trong hồi ức của tôi vẫn còn hình bóng chú: một thanh niên mảnh mai trắng trẻo, nói chuyện nhỏ nhẹ và hát dân ca quan họ thật hay. Khởi nguồn tình yêu quan họ của tôi từ đó chăng? Và, theo thời gian, cái tình yêu trong trẻo ấy cứ lớn dần lên cùng những bâng khuâng xao xác khi được xem Đến hẹn lại lên; một bộ phim xúc động về miền quê quan họ, được nghe các liền anh liền chi ca đôi câu lề lối rất mực huê tình. Cách đây chục năm, sau khi nghe quan họ giữa thành phố Hồ Chí Minh tôi đã viết: Cứ như đã hẹn trúc xinh / Ao xưa đình cũ với mình chiều nay / Xin người lựa ngọn gió bay / Buộc vào vạt áo mặn cay với người / Lời thương chẳng sợ nhạt vơi / Nay mai chân bể góc trời có nhau / Còn duyên làm rể sông Cầu / Hết duyên Quán Dốc đón dâu với làng / Trăm năm cón nhớ người ngoan / Quai thao nón thúng có sang bến chờ? / Mạn thuyền nước chảy lơ thơ / Sương giăng bóng nhện cuối bờ giêng hai...Tuy vậy cũng lần lữa mãi, hẹn hò mãi mới có được một chiều đông về với sông Cầu nước chảy lơ thơ để nghe, để thấy, để thấm phần nào thanh sắc quan họ gốc, quan họ mộc nơi xứ sở của những làn điệu dân ca da diết, níu náu đã trở thành di sản văn hóa nhân loại.
Chúng tôi chọn huyệnViệt Yên để đến với những làng quan họ. Bạn đồng hành với tôi trong chuyến điền dã thú vị này là nhà thơ Nguyễn Thanh Kim, Đoàn Văn Mật, nhà báo Đỗ Thành Nam và đặc biệt có phó phòng văn hóa thông tin huyện Đào Trọng Ca vốn là một người ca quan họ nổi tiếng. Tự nhiên, sôi nổi, Ca truyền dụ vào tôi cái chất đắm đuối mê say của dòng quan họ bằng những câu chuyện, câu hát về quê hương mình. Việt Yên có 130 đội văn nghệ / 151 làng trong đó có 80 đội quan họ. 5 làng quan họ của huyện vừa được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Mừng lắm, tự hào lắm chứ khi quan họ không chỉ là tài sản có giá trị riêng của vùng Kinh Bắc, của Việt Nam mà nó đã trở thành vốn quý của hành tinh xanh này. Bạn bè bốn biển năm châu đã biết đến, đã tìm về ngày càng đông hơn quê hương quan họ và sau khi nhận miếng giầu cánh phượng của người ngoan họ được thấm thía cái tình sâu lắng, vẻ đẹp thanh tao của mảnh đất này.
Người chơi quan họ, Đào Trong Ca nói với tôi thế. Chao ơi, một cuộc chơi tự nhiên, công phu đầy nghĩa tình nhân văn đằng đẵng kéo dài từ thế hệ này sang thế hệ khác, trọn những kiếp người níu náu dùng dằng với nó. Còn mãi với thời gian, còn mãi với không gian 5 canh quan họ vang - rền - nền - nẩy với 3 giọng lề lối, vặt và giã của những liền anh áo lương khăn xếp, những liền chị nón thúng quai thao. Người quan họ khi kết chạ rồi thì không lấy được nhau. Trời ạ, Yêu nhau không lấy được nhau / Mượn dao mượn kéo gọt đầu đi tu. Tôi từng phân vân tại sao người xưa đặt ra cái lề luật nghiệt ngã đến thế với các liền anh liền chị. Những tình yêu không đi tới hôn nhân. Bây giờ tôi đã hiểu ra chính nhờ cái lề luật nghiệt ngã đó mà những canh quan họ bao giờ cũng trong sáng, cũng da diết, cũng sâu sắc, cũng níu náu đến nao lòng. Cuộc chơi quan họ là cuộc chơi không có hồi kết, giã bạn rồi hẹn bạn trở về trong tiết giêng hai lất phất mưa bay để cùng soi vào mắt nhau, trao gửi cho nhau những thăm thẳm ân tình.
Về Thổ Hà, gặp gỡ anh Hai Hiệp, anh Hai Nam - một cặp ca quan họ nổi tiếng của Bắc Giang - chúng tôi mới hiểu rõ hơn thế nào là người chơi quan họ. Anh hai Nguyễn Phú Hiệp, nói không ngoa chút nào chính là kho quan họ của làng. Trong anh đang lưu giữ khoảng 400 bản quan họ cổ. Hay diễn đạt cho chính xác hơn thì hơn 400 bản quan họ ấy; những Cây gạo chon von, những Ông giăng, những Tuấn Khanh... đang ở trong máu thịt của anh. Nó chính là cuộc đời anh, tâm hồn anh; cuộc đời và tâm hồn đa cảm đa tình của một người quan họ. Cuộc sống vất vả truân chuyên không làm cho người chơi quan họ nản lòng. Anh Hai Hiệp làm nghề cắt tóc, anh Hai Nam sản xuất bánh đa, những thảo dân ấy cũng là những nghệ sĩ tài hoa của làng quan họ. Anh Hiệp đã từng học quan họ với cụ Son, cụ Thà, cụ Xôi từ thời trai trẻ. Anh kể rằng, các cụ phần lớn không biết chữ, thầy dạy cho trò theo lối truyền khẩu, có trường hợp phải 10 năm sau mới hoàn thiện bài hát. Có câu chuyện thế này không thể không kể ra với bạn đọc. Năm 1994, cụ Son thầy dạy của anh Hai Hiệp bị ốm thập tự nhất sinh. Năm ấy cũng là năm cặp liền anh Hai Hiệp - Hai Nam đi thi hát đối đáp do tỉnh Hà Bắc (cũ) mở và đã dành giải nhất với bài Ông giăng. Bài hát này là của độc, vào thời điểm ấy không mấy người biết do sư huynh Vũ Tự Lẫm, người đóng vai Hai Chi trong phim Đến hẹn lại lên mới dạy cho hai người tối qua. Dành được giải cao nhất cuộc thi 2 anh về báo công và hát cho cụ Son nghe. Mấy vạn năm nay tính hãy còn / Cớ sao khi khuyết lại khi tròn / Ba mươi, mồng một đi đâu vắng / Hay có tình riêng với nước non. Sau khi nghe trò hát, cụ Son bỗng ngồi phắt dậy rồi nói: hát thế mới đúng, mới phải, ngày xưa ta vẫn hát như vậy. Rất kỳ lạ là sau khi nghe trò hát, thầy dần dần lui bệnh rồi khỏi và còn sống thêm 9 năm nữa.
Hát quan họ, không nghi ngờ gì nữa chính là nhu cầu tự thân của người xứ này. Những giai điệu trữ tình được cất lên trong hội làng, trong cuộc sống thường ngày. Gặt hái đáng kể nhất của tôi trong chuyến đi này là được ngồi giữa đình làng hay trong nhà các liền anh, liền chị nhiều thế hệ để thưởng ngoạn quan họ ngoài sân khấu, không có nhạc đệm, không có hóa trang. Một thứ quan họ mộc được cất lên tự nhiên và gần gũi vô cùng. Đã lắng đọng vào tôi không chỉ là những giai điệu, lời ca hay và đẹp mà còn có hơi thở nồng nàn, những nét duyên đằm thắm của người quan họ. Ở đình Thổ Hà chưa hết ngất ngây khi nghe anh Hai Hiệp, Hai Nam ca thì khi về Nội Ninh, một trong những làng được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể thế giới, cảm xúc của chúng tôi được nhân thêm bội phần khi nghe cụ Đoàn Thị Cỏn, một nghệ nhân quan họ năm nay đã 90 tuổi và con dâu cụ, chị Đoàn Thị Bùi, đội trưởng đội quan họ của làng kể chuyện và cho thưởng thức những Đào nguyên, Ba Vì, Giăng bao nhiêu tuổi giăng già, Người ở đừng về...dậy tiếng thơm bao đời. Hai thế hệ quan họ, cách nhau hàng sáu chục tuổi, ngồi kề bên nhau hát đắm say những khúc tâm tình. Cụ Cỏn kể rằng, mười hai, mười ba tuổi tôi đã đi học ca quan họ, đến tuổi gần đất xa giời rồi vẫn còn mê hát và truyền dạy cho con cháu. Còn liền chị Đoàn Thị Bùi thì bộc bạch, trước đây tôi thích hát nhạc đỏ nhạc xanh nhưng sau khi được u truyền dạy cho thì tôi mê cái vang rền nền nẩy của quan họ lắm. Chị có may mắn là được mẹ đẻ và mẹ chồng truyền dạy quan họ cho, nên bây giờ là một trong những liền chị nổi tiếng của Bắc Giang. Mê đắm quan họ nên nhiều người như Bùi đã bỏ ra gần 500 nghìn tiền túi để sắm sanh áo quần, nón thúng quai thao. Không thể không nhắc tới đội quan họ của làng Nội Ninh đã có 39 người, từ các cháu học trung học cơ sở đến người trên 50 tuổi. Cũng vì để giữ gìn vốn quý quê hương, giám đốc Công ty Bagico Nguyễn Thị Thành Thực đã thành lập câu lạc bộ hát dân ca tập hợp trên 60 cháu. Công ty đã bỏ tiền ra thuê người về dạy ca quan họ cho các cháu. Chúng tôi đã chứng kiến buổi học hát quan họ của các cháu thiếu nhi tại câu lạc bộ hát dân ca của Công ty do cô Hiền, cô Thu dạy. Những bài quan họ, lời cổ và mới được cất lên từ những cháu thiếu nhi nghe đáng yêu quá và tôi tin những lớp liền anh, liền chị mới đang được hình thành. Trên quê hương Bắc Giang, sẽ xuất hiện nhiều người chơi quan họ nổi tiếng. Quan họ chẳng bao giờ mai một, phai nhạt hay mất đi, ngược lại sẽ càng sáng tỏa hơn, càng vang rền nền nẩy hơn trong lòng bạn bè gần xa. Bởi quan họ là tình người, là ân nghĩa, là nhân văn mang vẻ đẹp tâm hồn sâu sắc của xứ sở này.
![]()
Nhà văn trẻ Trung Quốc...
nguyenhuuquy | 02 January, 2010 08:46
NHÀ VĂN TRẺ TRUNG QUỐC TRONG "TỨ ĐẠI ĐỒNG ĐƯỜNG"
Nguyễn Hữu Quý
Tháng 12 năm nay, cùng với các nhà văn Hà Phạm Phú, Văn Chinh, Đỗ Bảo Châu, Trần Kỳ Trung, tôi có chuyến thăm và làm việc với các nhà văn Trung Quốc. Mùa đông nước bạn giá buốt; có những lúc thủ đô Bắc Kinh lạnh âm bốn độ C, thành phố Tây An tỉnh Thiểm Tây tuyết rơi trắng muốt, Thượng Hải cũng lạnh lắm nhưng đoàn nhà văn Việt Nam lúc nào cũng cảm thấy ấm áp bởi tình cảm gần gũi, thân thiết và sự đón tiếp chu đáo của bạn. Suốt hành trình dọc ngang Trung Hoa của chúng tôi, từ Bắc Kinh hoành tráng đến Thiểm Tây cổ xưa về Thượng Hải năng động luôn có Vương Khiếu Hoa, cán bộ Ban đối ngoại Hội Nhà văn Trung Quốc và Thẩm Tổ Anh, phiên dịch đi cùng. Chúng tôi đã có ba buổi làm việc trao đổi với đại diện Hội Nhà văn Trung Quốc, Hội Nhà văn Thiểm Tây và Hội Nhà văn Thượng Hải về tình hình văn học hai nước. Đội ngũ nhà văn trẻ và vị trí của họ ở Trung Quốc hiện nay như thế nào là một trong những mối quan tâm của chúng tôi.
Bạn cho rằng nhờ sự phát triển mạnh mẽ và vững chắc về kinh tế cũng như sự nới lỏng về chính trị đã tạo điều kiện cho văn học Trung Quốc trong mấy năm gần đây phát triển mạnh. Văn học thuần túy, văn học trẻ và văn học mạng (theo cách gọi của bạn) cùng song song phát triển và đều có người đọc. Truyện dài (tiểu thuyết) là loại hình văn chương phát triển mạnh mẽ nhất ở Trung Quốc hiện nay; ước tính mỗi năm xuất bản 1000 bộ. Năm 2008 giải thưởng Mao Thuẫn đã trao cho 4 bộ tiểu thuyết của Giả Bình Ao, Chu Tài Tân, Xích Tử Kiện và Mạch Gia. Những triệu phú nhà văn xuất hiện trong đó có các tiểu thuyết gia trẻ tuổi như Quách Kính Minh, Hàn Hàn...Những cây bút trẻ như Quách Kính Minh, Hàn Hàn, Lý Sỏa Sỏa, Xuân Thụ, Trương Duyệt Nhiên, Trịnh Tiểu Quỳnh, Tôn Duệ, Tưởng Phong, Châu Gia Ninh, Bộ Phi Yên, Quảng Quảng, Tiểu Phạn, Thái Tuấn, Chu Tiến...được nhắc nhiều đến trên văn đàn nước bạn.
Trong số các nhà văn trẻ, Quách Kính Minh được coi là hiện tượng của văn học Trung Quốc. Anh đã được độc giả biết tới từ tiểu thuyết đầu tay Ảo thành với số lượng sách xuất bản lên tới 84 vạn. Quách Kính Minh càng nổi danh hơn với những Thời niên thiếu, Hoa rơi trong giấc mộng, Đảo, Bóng tay trái, tuổi tay phải, 1995 - 2005, hạ chí chưa tới, Mê tàng...Người ta nói rằng hơn một nửa học sinh sinh viên Trung Quốc đã mua và đọc tác phẩm của nhà văn trẻ này. Trương Duyệt Nhiên với những tác phẩm có tác động rất lớn đến thanh thiếu niên Trung Quốc như Mèo đen không ngủ, Hủy diệt, Khuôn mặt làm rách thành phố được gọi là nhà văn khái niệm mới. Tác giả của Phong nhũ phì đồn, Đàn hương hình đã viết lời tựa cho 6 tiểu thuyết của Trương Duyệt Nhiên. Các bạn nói thêm với chúng tôi: sách của Quách Kính Minh, Hàn Hàn...xuất bản lần đầu không dưới một triệu bản và thu nhập bằng bàn phím của họ mỗi năm trên 10 triệu nhân dân tệ (gần 30 tỉ tiền Việt Nam)
Nhà văn trẻ Thái Tuấn viết tiểu thuyết trinh thám tung lên mạng sau đó in thành sách lần đầu đạt tới 20 vạn. Thừa thắng xông lên Thái Tuấn viết tiếp tập hai, tập ba, tập tư và được nhà xuất bản tóm ngay in thành sách. Một cây bút trẻ khác là Chu Tiến, tuy chưa phải là hội viên Hội Nhà văn Trung Quốc và đương nhiên là chưa nổi tiếng cũng bắt đầu con đường văn chương như Thái Tuấn. Qua chuyện trò với bạn, tôi có cảm nhận rằng các nhà văn trẻ Trung Quốc đã xác lập được vị trí xứng đáng ở đất nước rộng lớn đông đúc này, không có sự coi thường kỳ thị của các bậc nhà văn cha chú. Ngược lại các nhà văn trẻ cũng dành cho thế hệ cầm bút cha anh sự kính trọng đúng mực. Họ vẫn coi một số tác phẩm của nhà văn Ba Kim là kinh điển và việc nhà văn già dìu dắt phát hiện giới thiệu nhà văn trẻ không phải là hiện tượng hiếm ở Trung Quốc. Chính nhà văn Vương Mông là người dìu dắt giới thiệu Quách Kính Minh vào Hội Nhà văn Trung Quốc và Thiết Ngưng, chủ tịch Hội Nhà văn Trung Quốc hiện nay cũng mới sinh năm Đinh Dậu, 1957.
Tôi thực sự thích thú khi bạn nói về các thế hệ nhà văn Trung Quốc là Tứ đại đồng đường. Bốn thế hệ nhà văn sống chung một nhà. Thế hệ thứ nhất trưởng thành trong chiến tranh (trước 1949); ảnh hưởng của họ hiện nay với bạn viết, bạn đọc trong nước đang giảm dần. Thế hệ thứ hai, từ 1950 đến 1970 nhiều người vẫn đang sáng tác màVương Bột là một điển hình...Thế hệ thứ ba được tính từ cuối 1970 đến những năm 80; thời Trung Quốc cải cách mở cửa.Và thế hệ thứ tư, 8X 9X như ta thường gọi.
Một số tác phẩm của các nhà văn trẻ Trung Quốc được dịch sang Việt Nam bạn đánh giá không cao mà Vệ Tuệ là một ví dụ. Trong các buổi trao đổi với bạn chúng tôi không hề được nghe nhắc đến cái tên này. Bạn cho rằng không nên để văn học Trung Quốc đồng hóa, đồng nhất với văn học thế giới. Trong nhiều tác phẩm của các bạn trẻ chỉ chú tâm miêu tả và tô đậm quá mức đến những dục vọng con người mà không quan tâm tới đời sống hiện tại nhân dân đất nước. Nhà văn trẻ còn thiếu khả năng sáng tác gốc, cần chú ý tới nhiều hơn nữa lý tính trong sáng tác văn chương. Nhà văn thế hệ thứ tư viết linh hoạt hơn nhưng vẫn là lời văn của mạng và phần lớn không có sứ mạng và ít tình cảm. Họ còn phải cố nhiều hơn nữa mới làm được như lòng mong muốn của nhà văn đàn anh, Mạc Ngôn, văn học vĩ đại không bao giờ dừng lại trên tầng diện ảo mộng, nó cần hàm chứa lịch sử, hàm chứa hiện thực rộng lớn và trách nhiệm, hàm chưa cuộc đời thực vụn vặt, gian nan mà cụ thể.
Mười ngày, chưa đủ để thâm nhập sâu và thấu hiểu về các nhà văn trẻ Trung Quốc, tôi nghĩ thế. Vả lại, chưa có điều kiện để đọc các bạn nhiều nên trong bài viết này chỉ mới dám ghi chép lại những cảm nhận về một thế hệ nhà văn trẻ của đất nước từng có Đường thi, Tây du ký, Tam quốc diễn nghĩa, Hồng lâu mộng, Thủy hử, AQ chính truyện...qua mấy cuộc chuyện trò thân mật với các bạn văn Trung Quốc mới thấy văn học hai nước có nhiều điểm tương đồng, có những xu hướng không khác xa nhau mấy và cả những dự định, quan tâm gần gũi lắm. Chỉ tiếc là sự hiểu biết của bạn về văn học nước ta, nhất là văn học đương đại trong đó có phần đóng góp của các nhà văn trẻ không được nhiều nếu như không muốn nói là gần bằng O. Bạn thừa nhận điều đó và yêu cầu chúng tôi giới thiệu một số tác phẩm tiêu biểu trong những năm gần đây cho bạn. Tôi tạm thời mạnh dạn đề cử Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh và Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư. Tôi nói, đây là hai nhà văn trong số hàng trăm nhà văn thời sau chiến tranh chống Mỹ xâm lược của nước chúng tôi, tác phẩm của họ đã được dịch ra nhiều nước trên thế giới, nếu được dịch sang tiếng Hoa và sau khi đọc nó chắc các bạn sẽ hiểu hơn văn học hiện nay của Việt Nam. Con đường thông lưu văn học, trong đó có văn học trẻ giữa hai nước chắc chắn còn nhiều gian nan và phức tạp nhưng lẽ nào ta không hy vọng vào ngày mai khi Hội nhà văn Việt Nam và Hội nhà văn Trung Quốc đang có những việc làm cụ thể thiết thực để hiểu biết và gần nhau hơn mà chuyến đi của chúng tôi chắc cũng không nằm ngoài mục đích thân thiện tốt đẹp đó.
Đồng Xa, ngày 26 tháng 12 năm 2009

Chiếc bình gốm ghi tên các nhà văn thuộc Hội Nhà văn Trung Quốc đặt tại Bảo tàng Văn học TQ.
Chùm thơ đi Trung Quốc
nguyenhuuquy | 29 December, 2009 08:43
Nguyễn Hữu Quý
GẶP GỠ BẮC KINH
Tặng VKH và các bạn nhà văn Trung Quốc
Cuối đông
Bắc Kinh
xám lạnh
Rượu xưa
bạn mới
ấm nồng.
Cùng uống, cùng hát
lời Hoa, lời Việt
đan xen
Tặng em
câu ca xứ sở tôi
Yêu nhau cởi áo cho nhau...
Chẳng hiểu phiên dịch nói gì
em cười
mắt đen, má hồng
ửng sáng
Rượu Hoa cạn chén
lâng lâng men đầy...
Bắc Kinh đêm 9.12.2009
Lưỡi kiếm và trang thơ
Giai nhân và hảo hán
Năm nghìn năm mờ tỏ
Trong bóng chiều Tây An.
Bảy tầng cao Đại Nhạn (**)
Cũng khoác màu hoàng hôn
Mặt trời không muốn lặn
Trước tình người phương Nam...
Cuộc đời nhiều sóng gió
Xin Đức Phật: Bình an
Hoà bình xanh từng ngõ
Mọi miền hết chiến tranh
Sừng sững tượng Đường Tăng
Dưới trời cao lồng lộng
Lão Tôn (***)đi đâu vắng?
Ta gọi hoài bâng khuâng...
Tây An chiều 11. 12. 2009
------------
(*) Thành phố cổ, trước đây gọi là Tràng An, có 5000 năm lịch sử thuộc tỉnh Thiểm Tây, TQ.
(**) Tháp Đại Nhạn cao 7 tầng, nơi Đường Tăng từng truyền giảng Kinh Phật sau khi đi Ấn Độ về.
(***)Tôn Ngộ Không
Thăm Trung Quốc
nguyenhuuquy | 27 December, 2009 16:32
Thưa Mẹ
nguyenhuuquy | 25 December, 2009 07:28

Mẹ đã có những đứa con ngã xuống trong chiến tranh
Mẹ đã có những ngôi nhà bị đốt trong chiến tranh
Mẹ đã có những mùa màng bị sát hại trong chiến tranh
Mẹ đã có những tình yêu bị cướp đoạt trong chiến tranh
nên Mẹ hiểu chiến tranh là không thể...
Thưa Mẹ
Chiến tranh - máu đổ
thế kỷ hai mươi máu chảy ròng ròng
thế kỷ mới cũng ròng ròng máu chảy
Hành tinh xanh - kho thuốc súng khổng lồ
Con chưa thể trả lời Mẹ được
thương yêu và thù hận
đối thoại với đối đầu
Nhân loại sẽ về đâu
trong những mưu toan vẩn đục?
(Trích Vạn lý Trường Sơn - Nguyễn Hữu Quý)
Gọi Mẹ
nguyenhuuquy | 06 December, 2009 09:07
Nguyễn Hữu Quý
GỌI MẸ
Trong căn phòng không sáng quá, không tối quá
con làm thơ
cho một cơn mưa vừa mồ côi mùa hạ
Mẹ đi xa
hơn bốn mươi năm rồi...
Bốn mươi năm lót lá co mình
mẫu đơn đỏ cũng là con thương Mẹ!
Trời xa thế
Đất xa thế
Mẹ ở đâu trong cõi vô hình?
Mẹ ơi
câu thơ con còn kịp
tìm về nơi gió chưa khô?
Đọc Vạn lý Trường Sơn
nguyenhuuquy | 01 December, 2009 13:17
Đọc trường ca Vạn lý Trường Sơn
của Nguyễn Hữu Quý.
Trần Sáng
Khi có cơ hội được thưởng lãm một tác phẩm văn học nào đó, tôi luôn bày tỏ sự nghi ngờ khi ai đó cho rằng, có thể tách bạch những đặc thù thể loại trong quá trình sáng tạo. Bởi dường như khi đã đắm mình vào cảm hứng sáng tạo. trạng thái mà người Trung Quốc gọi là yên sỹ phi lí thuần, thì dường như chủ thể sáng tạo sẽ bất chấp cái tâm phân biệt, hay nói cách khác là sự thuần lí của ý thức sẽ tạm thời lắng xuống, nhường chỗ cho trực cảm tế vi của tiềm thức mạnh mẽ vươn lên. Lớn như các kiệt tác lừng danh: Illiad, Oddise, (Home) Thần khúc (Dante), hoặc sử thi Mahabrahanta (Ấn Độ)...còn nhỏ như bất kỳ một bài Tứ tuyệt hoặc Lục bát, hoặc Hài cú mà bất cứ ai đó trong chúng ta cũng có thể bật ra khi nào đó.
Đọc Vạn lý Trường Sơn của Nguyễn Hữu Quý, ta trực diện với một trực cảm sáng tạo mạnh mẽ như thế, như một tổng phổ nhiều bè, nhiều giọng, từ giọng thủ thỉ tâm tình của nhật ký: Một ngày mùa hạ...Mình lên Nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn, nơi yên nghỉ của hơn 10.000 người lính đã từng sống, chiến đấu, lao động và hy sinh trên con đường Hồ Chí Minh những năm đánh Mỹ. Lớp lớp mộ bia trắng toát như những con sóng đã hoá đá làm nao lòng bao người đến viếng đồng đội, người thân...Đây là khu mộ liệt sĩ Hà Nội, kề bên là Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên- Huế, xa xa là Nghệ An, Hà Tĩnh...rồi Thanh Hoá, Ninh Bình, Nam Định, Hà Nam, Hải Phòng, Quảng Ninh, Cao Bằng, Lạng Sơn...và các tỉnh phía Nam. Không quê hương nào là không có những người con yêu dấu nằm lại ở đây.
Hay lục bát trữ tình nhẹ nhàng tình cảm, êm ái: Yêu nhau cởi áo cho nhau / áo quê gói lại mùa ngâu đôi bờ / bên sông ai vẫn đợi chờ / người xuyên rừng thẳm mịt mờ bặt tin
Rồi những khoáng đạt, phá cách, của thơ tự do: Rồi có lúc họ sẽ trở về với những ngôi làng dựng trên nền châu thổ triệu năm hay mọc trên những cánh cung địa thạch cổ xưa. Những cái nôi Giao Chỉ nồng nàn kẽo kẹt nhịp giao hoan phồn thực nắng mưa đón đợi. Họ sẽ trở về nơi họ đã từng được ăn tục ngữ, uống ca dao, được bay lên bằng những làn điệu dân ca tình tứ.
Khi lại hàm ngụ thấm thía, xót xa như những Chân ngôn: Thế giới này... Tồn tại những khát vọng bao la dẫu chưa được định danh trong ánh sáng. Tồn tại những dư ba không gióng tiếng chuông rền mà vọng thấu mọi trái tim rớm máu. Tồn tại những lá cờ bay trên dấu chấm than đánh dấu sự có mặt của chiếc cối giã trầu làm bằng vỏ đạn, chiếc lược làm bằng mảnh xác phi cơ và mảnh gương bé con lồng tấm hình của mẹ...
Ta có thể dễ dàng tìm thấy ở đó các yếu tính đặc thù của thể trường ca,với ý hướng là một bài thơ dài chuyển tải một cốt truyện lớn, giàu tính sử thi. Thì đây, sẽ giúp cho bạn những sử liệu của một câu chuyện như thế, bạn sẽ thấy cả một dân tộc lên đi mở đường, con đường vạn lý dài 16.000 km với 5 trục ngang 21 trục dọc, sẽ biết được nhát cuốc đầu tiên bập xuống mảnh đất này là vào ngày19/5/1959...
Nhưng mặt khác, bạn cũng dễ dàng tìm thấy những phi đặc thù phá thể của trường ca này, bởi nó đã khước từ trật tự tuyến tính khi đẩy chương Khai sinh xuống hàng 2 và để nhiều đoạn trượt ra khỏi đại lộ cảm hứng sử thi, mà tìm ngả rẽ về với những xót xa, thương cảm phận người.
Tất cả những điều này dường như cũng chẳng có ý nghĩa gì, trước thi hứng mênh mông, rợn ngợp suốt 9 chương-mười ngàn chữ của trong "hợp xướng" Vạn lý Trường Sơn.
Đề tựa Vạn lý Trường Sơn, dễ làm người ta nghĩ tới tiết nhịp đi 2/4, rầm rập bước chân của đại quân Xẻ dọc trường sơn đi cứu nước/mà lòng phơi phới dậy tương lai (thơ Tố Hữu) dễ nghĩ đến tâm thái hào sảng của khúc tráng ca giữa thiên nhiên bạo liệt và kỳ vỹ có tên là Trường Sơn, và cái trí liên tưởng còn nghĩ đến một vạn lý như vạn lý trường thành, anh dũng can trường, trên tuyến đầu chống giặc và có thể còn biết bao liên tưởng khác trên cơ thể đất nước, nghìn năm trằn mình chống giặc. Thực ra, ở Vạn lý Trường Sơn không hề vắng mặt những hình ảnh đó. Chỉ có điều tâm thế ở đây đã khác, đọc Vạn lý Trường Sơn của Nguyễn Hữu Quý, lại chợt nhớ đến chiêm nghiệm Lô sơn của Tô Đông Pha: Lô sơn yên tỏa Chiết Giang triều, vị đáo bình sinh hận bất tiêu, đáo đắc bản lai vô biệt sự, Lô Sơn yên tỏa Chiết Giang triều. Vẫn là khói tỏa Lô Sơn sóng Chiết Giang nhưng tâm cảm giờ đây đã khác. Và ai đã qua vạn lý đời người, thì mới biết sự qui hồi bản thể kia, mới thật là nan đạo! Vẫn núi, vẫn cây, vẫn mây, vẫn gió, vẫn còn đấy một Trường Sơn của khốc liệt, máu lửa chiến tranh, nhưng đây là cuộc chiến đã lặn vào sâu kín đáy lòng, cuộc chiến vắng tiếng đạn bom, không nghe thấy bước quân đi nhưng tâm ảnh vẫn trập trùng, rợn ngợp day dứt khôn nguôi: họ-đội quân vô hình / hoà nhập trong Trường Sơn trùng điệp.(Chương 3)
Rõ ràng, sự khác của nhịp thơ là do, đã do thi cảm quyết định, giờ đây, đoàn quân đi trên con đường Vạn lý Trường Sơn không phải với nhịp 2/4, mà là nhịp tâm cảm chảy suốt hai bờ âm - dương, đầy trắc ẩn, vì thế binh tướng mười ngàn người chật rừng là vậy. Song vẫn lướt đi, mong manh, khinh khoái, chẳng làm rơi một hạt sương đầu ngọn cỏ.
Hành trình Vạn lý Trường Sơn, thực sự là một cuộc lặn sâu vào tâm thể, thám hiểm nội giới thăm thẳm khôn cùng. Một cuộc kiếm tìm đặc biệt khi tác giả lặn sâu vào bản thể, thực hiện cuộc trầm thám cõi uyên nguyên, nơi hội tụ của những giá trị người đích thực. Trong chuyến thám sát này, tiềm thức đương quyền quán chiếu mọi cung bậc cảm xúc. Nước mắt và nụ cười, niềm vui và nỗi đau, hạnh phúc và khổ đau, tất cả những tài khoản quí giá lưu giữ trong ngân hàng ký ức khổng lồ của người lính, lần lượt được diễu qua trước ống kính, trong những xen cận và viễn cảnh mang tên Vạn lý Trường Sơn". Đó là cuộc hành hương về với thánh địa của tâm hồn. Một cuộc hành hương được soi chiếu dưới ánh sáng của tâm thức Bồ Đề.
Mở đầu thiên trường ca 10.000 từ này là hình ảnh cội bồ đề, một cội Bồ Đề nảy chồi từ tâm thức Việt, tâm thức của một dân tộc kiên cường, nhưng đã chịu quá nhiều đau khổ và luôn luôn muốn hồi hướng nhân tâm về nẻo hòa bình: cây bồ đề từ lòng Phật bước ra / làm một tượng đài Trường Sơn khác. Một tượng đài xanh, xây lên như thông điệp của một dân tộc yêu hòa bình, xây lên để cởi bỏ, hóa giải hận thù, để rủ che bóng mát xuống cõi tâm linh. Một thế giới, một hình thức sống khác của con người.Và đây cũng chính là tâm thức chủ đạo quán chiếu toàn bộ tác phẩm, qua nó là những cảm thức bi tráng về những luận đề thiết yếu nhất trong cuộc hiện sinh con người. Từ tâm thức Bồ Đề đó mà sinh ra cảm thức lớn của tác phẩm, đó là cảm thức kiêm ái. Đọc những như câu thơ như:thế kỷ hai mươi máu chảy ròng ròng / thế kỷ mới vẫn ròng ròng máu chảy ta như thấy đâu đó quanh ta gương mặt xót xa của chàng Mặc Địch.
Lau trắng ngoài con đường lịch sử / Mây trắng bay lên từ bia mộ điệp trùng./ Hình đồng đội tỏ mờ trong sương trắng / Hương khói trắng hai mùa ngan ngát / Màu hoa nào trắng nỗi mẹ đơn côi.
Lau trắng, sương trắng, khói trắng, hoa trắng, hương khói bay nghi ngút trắng. Điệp vần và điệp ý, tang khí ngập tràn, Trường Sơn như một bà mẹ cô đơn co mình trong tang phục, khi cuộc chiến qua đi đã ba mươi năm. Đọc những câu thơ này lại chạnh nhớ đến một câu thơ Đường tuy đọc đã lâu, nhưng mỗi khi nghe lại đều không khỏi rùng mình: ở nơi đâu có chiến tranh xảy ra, mười năm sau cỏ vẫn còn tanh mùi máu. Lại chạnh nhớ đến cảm thức về máu của anh chàng trinh sát tên Kiên trong cái đêm bì bõm, ngập ngụa giữa thung lũng bùn-máu, trong cuốn Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh
Cũng trong mạch đó, là những cảm thức về chiến tranh và hòa bình, về hạnh phúc và bất hạnh, về tình yêu và sự đau khổ, về những ước mơ âm bản của tuổi thanh xuân: Chẳng đủ thời gian tính chuyện trăm năm / rừng cất giữ bao giấc mơ chồng vợ. Đó là sự nhắc nhở về cái giá khốc liệt phải trả cho từng giọt hòa bình: Chiến tranh nhập khẩu đại ngàn / hoà bình theo gió về làng ru nhau / vá lành những nẻo thương đau / cho bao cơn bão rừng sâu tan dần và hơn hết là về mẹ như một biểu tượng tập trung nhất của suối nguồn hòa bình: Mẹ sinh ra biển cả mênh mông / mà chỉ vậy chắt chiu làm hạt muối / chẳng ham gặt huân chương bằng máu / cả cuộc đời mẹ là mẹ của con...
Như mỹ học của sự khổ đau, mẹ luôn đựng đầy đau khổ, phiền não, mẹ là người bại trận duy nhất và vĩnh viễn của mọi cuộc chiến,. Nhưng cũng như Biển năng lượng tình thương của Mẹ không bao giờ cạn và luôn luôn dào dạt chuyển động không ngừng, bởi nó được vận hành bằng một động lực vĩnh cửu. Động lực của mẫu tử tình thâm. Có một thứ dân chủ hơn mọi dân chủ, có một bình đẳng còn hơn mọi bình đẳng đó là tình Mẹ. Tất cả mọi đứa con đều có một phần như nhau trong tình thương của Mẹ. Có chuyện là một ai đó khi đến thăm gia đình một bà mẹ liệt sĩ đã tỏ ý thắc mắc khi nhìn thấy bên cạnh bức ảnh liệt sĩ gia đình cũng để tấm hình của một người con là lính cộng hòa bị chết trận. Trong khói nhang thơm gọi con về, Bà Mẹ đã thì thầm như nói với mình: bên này hay bên kia cũng đều là con mẹ. Trung thành với mạch chảy kiêm ái đó, bên thành cổ thành Quảng Trị, nhà thơ đã thắp nén tâm nhang: Đài chứng tích nấm mồ chung liệt sỹ / nhưng khói hương này xin thắp cả đôi bên.
Bên cạnh mạch tâm cảm luôn căng tràn đến dòng kết thúc, trường ca Vạn lý Trường Sơn về mặt nghệ thuật, vẫn còn khá nhiều hạn chế. Ví như, có quá ít những triết luận đạt tầm khái quát cao (một trong những thành tố làm nên sự bất tử của trường ca). Sức tưởng tượng, tính ẩn dụ nghệ thuật và sự điêu luyện của ngôn từ, cũng như một vài yếu tính khác của trường ca (và thi ca nói chung), tiếc thay, lại chưa phải là những ưu điểm nổi bật của trường ca này.Vẫn còn thi đoạn thô nhám, nặng tính hiệu triệu, hô hào trực tiếp như một văn bản tuyên truyền, biểu hiện hiện của chất liệu thơ đang ở dạng quặng thô, chưa qua sự gọt rũa: Giặc Mỹ đẻ ra quỷ dữ pháo đài bay B52 rải thảm / bắt mây làm mưa nhão nhoét cung đường / cắm xuống mặt rừng cây nhiệt đới biết lắng nghe / chế tạo bom laze định hướng / Chúng có thể đốt cháy cả Trường Sơn nghìn dặm / nhưng làm sao thiêu huỷ được con đường / con đường mang ý nghĩa Sinh tồn / Tổ Quốc!
Tuy nhiên, sáng tạo về một đề tài không mới, mà luôn giữ được mạch cảm xúc căng tràn, viết như để trả món nợ tâm linh với Trường Sơn, với đồng đội vậy đã là một cố gắng đáng ghi nhận của nhà thơ. Dường như ở đây, có một sự thông linh thần kỳ nào đó khi tình cờ, tôi kiểm tra bằng thanh công cụ word cound, kết quả là trường ca Vạn lý Trường Sơn của Nguyễn Hữu Quí được hơn 10.070 từ, sau khi trừ đi những ký tự không liên quan đến nội dung, còn lại tròn 10.000 từ. Đây cũng là một phần tên của một bài thơ nhà thơ viết về các liệt sỹ Trường Sơn đồng thời cũng là số nấm mộ ở nghĩa trang nổi tiếng này. Tôi hiểu, trực giác tâm linh của nhà thơ, khi anh khép trường ca lại bằng thi đoạn: Em đã hiển linh / và tôi không thể không tin điều ấy / như tin có những đỉnh Tình Yêu trong Vạn lý Trường Sơn.
Những dòng cuối của Vạn lý Trường Sơn nghe như tiếng thở dài nhẹ nhõm của món nợ lòng đã phần nào đã trả. Dưới lòng đất âm thầm, trong tầng cây nhiệt đới xanh rì có vạn vạn cuộc đời đang ẩn hiện. Họ đi bằng gió. Họ nói bằng cây. Máu đã thấm vào đất, người đã hóa thành cây cỏ, Đất vô song lại trưởng dưỡng cỏ cây trong chu trình sinh-diệt vĩnh hằng của sự sống. Những Xuân-Lan-Thu-Cúc-Liên- Hương-Huệ...đã bất tử với sự thanh tân của mình trong mây ngàn, hạc nội Trường Sơn. Vẫn còn đó một Trường Sơn kỳ vỹ thấp thoáng trong tâm cảm mỗi người.
Tháng 11 năm 2009
TS



Trackbacks (0) | 






