28 January, 2012 13:11
Ông đọc cháu nghe: Mưa xuân
Posted by nguyenhuuquy under [ Bên dòng thi ca ][ (0) Góp ý ] | [ (0) Trackbacks ] | [
Bản in]
Nguyễn Hữu Quý
Mưa xuân
Cái mưa
Ồ, chẳng chịu rơi
Cứ bay nhè nhẹ giữa trời lâng lâng.
Bên đường
Mấy ngọn cỏ xuân
Gọi mưa
Sao lại gọi nhầm tên em…
Ông Bà ngoại ơi, Tết đầu tiên của Miu đây!
Cháu được lì xì đây Ông Bà ngoại ạ!
21 January, 2012 15:01
Tết-Xuân và Thơ
Posted by nguyenhuuquy under [ Thơ - Trường ca ][ (2) Góp ý ] | [ (0) Trackbacks ] | [
Bản in]
TẾT-XUÂN và THƠ
Tết - Xuân xưa nay vẫn là nguồn cảm hứng dào dạt của thi ca. Trong túi thơ của tôi cũng đã có mấy chục thi phẩm Xuân. Xin chọn một chùm 5 bài đọc lại với bạn bè gần xa trong dịp Tết đến Xuân về.
Nguyễn Hữu Quý
THÁNG GIÊNG
Tháng Giêng tôi nhớ dịu dàng
sầu đông chưa tím, nắng vàng đang non
tháng Giêng rét mướt vẫn còn
còn ai đan áo mắt mòn chân mây?
Tháng Giêng mưa lẫn vào cây
cây thơm vào tóc, tóc bay vào mùa
Hội làng kẻ đón, người đưa
dịu dàng, tôi đợi sao chưa thấy về?
Lộc cài thăm thắm duyên quê
tháng Giêng cái tuổi cặp kề dung dăng
gió lành đã nhú mầm trăng
trúc xanh tìm bạn qua làn sương mơ.
Tháng Giêng ngõ vắng tôi chờ
tóc buông lưng lửng, nón hờ trên tay
chiều chiều thắc thỏm gió may
lòng quê thắm ngọn trầu cay mẹ dành.
Tàu cau sao vội giật mình
dịu dàng, tôi đợi, vô tình tháng Giêng!
VƯỜN MẸ VẪN MAI VÀNG
Thương yêu tặng miền Trung
Ngấn lũ mùa thu
in trong ký ức
con đi xa, thương mẹ vô chừng!
Những cánh đồng van vát miền Trung
neo vào Trường Sơn để không trôi ra biển
như chúng con
neo vào mẹ để còn xứ sở!
Mẹ tảo tần trong miền Trung chìm nổi
áo nối tay, gieo - vớt những mùa màng
giọt mồ hôi rơi xèo đất hạn
củ sắn, củ khoai vùi bão vẫn ngọt bùi.
Hạt thóc chín vàng đọng bao nhiêu nỗi
mẹ ơi, nỗi nào không đắng đót núi sông
núi miền Trung dốc, sông miền Trung ngắn
mẹ miền Trung trĩu gánh gập ghềnh.
Tết con về quê, vườn mẹ mai vàng
như hương sắc cả năm dồn tụ lại
miền khắc bạc mùa xuân chừng ngắn ngủi
vẫn dâng đầy thơm thảo một miền Trung!
NHỚ
Áo Tết mạ mua thơm phức
(nhà nghèo dồn lại cuối năm)
giao thừa còn nguyên nếp gấp
mặc mai mồng Một tung tăng.
MƯA ĐÃ GIÊNG HAI
Em về còn để lại hương
căn phòng nho nhỏ vấn vương hơi người
vẫn còn thơm tóc, thơm môi
thơm mắt lay láy, thơm cười lung linh.
Em về còn để lại xinh
cho tôi lấy nhớ xếp hình người yêu
thương bao nhiêu, đợi bao nhiêu
mà sông mắc cạn giữa chiều khuyết trăng.
Em về còn để bâng khuâng
giấc mơ tôi gặp dáng xuân gần kề
bồng bềnh đêm sóng đam mê
sóng xanh như cỏ bờ đê hôm nào
Em về còn để lao xao
câu thơ nhè nhẹ bay vào ban mai
ơ kìa, mưa đã giêng hai
se se rét lộc, rét đài…Về em…
THÔI ĐÀNH…
Thôi đành lấy rét làm chồng
mùa đông hôn lễ, cải ngồng phù dâu
yếm đào xưa cũ còn đâu
để em cởi nút bắc cầu mời anh!
Vãn năm một lá trầu lành
cay sao hết những ngọn ngành sâu nông
biết người còn níu lưng ong
cho con mắt lá răm vòng hội Xuân?
Buộc vào cái kiếp trầm luân
vai xuôi, một gánh gian truân gập ghềnh
trời cao, đất rộng thênh thênh
e còn cái nỗi trăng chênh góc trời!
Trước sau vẫn hạt mưa rơi
ngó sông, sông đục; trông người, người dưng
gió trôi qua bến lộc vừng
còn đâu mặn muối, cay gừng mà mong.
Thôi đành lấy rét làm chồng
mùa đông hôn lễ, cải ngồng phù dâu…
16 January, 2012 10:17
Bên mộ Cha
Posted by nguyenhuuquy under [ Thơ - Trường ca ][ (0) Góp ý ] | [ (0) Trackbacks ] | [
Bản in]
BÊN MỘ CHA
Mộ Cha con cháu xây rồi
gạch hoa ốp lát nắng đồi lung linh
nén hương đốt cháy lặng thinh
khói thơm quấn quýt ảnh hình ngày xưa
Cha về bước nắng, bước mưa
bước cao, bước thấp, bước thưa, bước dày
bước ổi chát, bước rượu cay
bước rơi sông cạn, bước bay núi mờ
Cha thời nuôi dạy con thơ
(Mẹ con cỏ đã xanh bờ đất đau)
đạn bom sống chết biết đâu
sắn khoai nối bữa, cháo rau qua ngày…
Vẫn trời, vẫn gió, vẫn mây
Cha ơi còn thiếu cỏ cây quê nhà
sống xa, chết lại càng xa
nơi khai sinh-chốn ruột rà thân thương!
Con không mang được quê hương
về bên nấm mộ tha phương của Người
mắt nhòa thầm gọi Cha ơi
thời gian như bụi ngược xuôi vọng về…
Nguyễn Hữu Quý
Cha và tôi bên cầu Thê Húc, Hồ Gươm, Hà Nội.
07 January, 2012 09:21
Nhậu giữa Cà Mau
Posted by nguyenhuuquy under [ Văn xuôi ][ (9) Góp ý ] | [ (0) Trackbacks ] | [
Bản in]
NHẬU GIỮA CÀ MAU
Tản văn của Nguyễn Hữu Quý
Đất Mũi-Cà Mau, ngón chân cái chưa khô bùn vạn dặm theo cách ví của nhà văn nổi tiếng Nguyễn Tuân bây giờ đã khác xưa, rất khác xưa rồi. Vùng đất chằng chịt kênh rạch, miên man mắm đước dường như không còn xa vắng hoang vu bởi sự đổi thay mau lẹ của các khu đô thị và cả thôn ấp ở đây. Nhìn bề ngoài là thế, còn Cà Mau vẫn Cà Mau thôi, thẳng thớm chân trực như muôn thuở, muôn đời. Trên đường về thăm quê ngoại, bạn tôi, một người lính cầm bút gốc gác Hà Nội đã bâng khuâng nói vậy.
Tôi gật đầu đồng cảm, bởi những người bạn Cà Mau mà tôi đã thân ít, thân nhiều đều không có ai xấu chơi cả. Họ không làm cho tôi buồn phiền vì sự láu cá, giả dối hay phản trắc. Vẫn biết ở đâu cũng có người tốt, kẻ xấu nhưng hình như cái tỉ lệ đểu thì không phải mọi vùng đều như nhau.
Chiếc vỏ lãi chạy vo vo trên con rạch ngầu ngầu nước không mấy rộng. Sông ngòi châu thổ phương Nam đậm đặc phù sa nên màu nước cũng nâu thắm mỡ màu. Khác lắm với sông quê tôi, mùa nắng thường trong biếc xanh ngần. Tôi nhìn ra hai bên, ô kìa, độ cao đất và nước gần như ngang bằng nhau. Vườn tược, nhà cửa, miếu mạo thấp thoáng sau những tán dừa nước xanh mởn. Nước xấp xỏa bờ. Đất mơn man nước. Đất và nước. Tuy hai nhưng là một trong sự gắn kết bền chặt vĩnh hằng, thuận hòa thân thiện làm nên sự trù phú tươi tốt của vùng đất liền nằm ở cuối chữ S Việt Nam mà ta vẫn thường gọi một cách vô cùng yêu thương: Đất Mũi!
Cha Hà Nội, mẹ Cà Mau, bạn tôi ở thành phố Hồ Chí Minh, thi thoảng mới về thăm quê ngoại. Tên ông ngoại, một đảng viên năm ba mươi, người chiến sỹ cách mạng kiên trung từng là Phó bí thư Tỉnh ủy Bạc Liêu đã bị giặc Pháp giam cầm và hy sinh ở Côn Đảo từ năm 1942 đã được đặt cho tên cầu, tên xã. Cầu Lương Thế Trân. Xã Lương Thế Trân. Một sự tôn vinh và ghi công xứng đáng cho những người yêu nước thương dân.
Nén hương thắp trên mộ ông thơm ngát mùi cỏ cây xứ sở. Một nấm mộ gió mang tên ông, người tù Côn Đảo có số danh 368788 đi vào cõi thiên thu lúc ba mươi mốt tuổi. Mộ thật của ông nằm giữa nghĩa trang Hàng Dương vi vút gió và không thể không nói thêm rằng ở Côn Đảo đã có một con đường Lương Thế Trân. Tên ông, hồn ông bát ngát nối từ Cà Mau ra biển đảo xa vời và ở đâu cũng chấp chới những linh thiêng không dễ chi diễn tả hết. Trong từng dòng kênh con rạch, mỗi thửa ruộng vuông tôm, từng bờ đất gốc cây như còn cất giữ những hồi ức về bao con người đi trước như ông. Lớp lớp mở mang khai khẩn, lớp lớp gieo cấy vun trồng, lớp lớp diệt thù đánh giặc, lớp lớp gìn giữ bảo tồn để có một Cà Mau vững bền chất Việt hôm nay.
Tôi se sẽ chạm vào một Cà Mau mộc mạc chân chất trong những giây phút rất dân dã đời thường với con cháu ông – những Ba Tài, Tư Luân, Chín Lĩnh, Chín Nghiệm, Lê Văn Hai…Không phải ngay từ lúc mới gặp nhau mà phải sau sau đó một chút khi cuộc nhậu bên dòng rạch Cái Nhum đã vào độ sâu. Khi mà, trong mắt người Cà Mau, tôi không còn là khách lạ nữa.
Bữa nhậu cho tôi thêm một chút hiểu về người Cà Mau sau những ngỡ ngàng ban đầu khi mình không được chào hỏi đón tiếp nồng nhiệt theo kiểu tay bắt mặt mừng như thường thấy ở xứ Bắc. Có cảm giác người phương Nam lược bỏ đi khá nhiều cung cách xã giao khi gặp nhau nhất là với người lạ nên mới ít vồ vập, đon đả và càng không cần phải đãi bôi như thế chăng. Thú thật, tôi cảm thấy hơi chưng hửng khi thấy các anh hai lúa, hai tôm thờ ơ khi nghe bạn tôi giới thiệu về mình này nọ. Mắt họ chẳng sáng lên, tay họ chẳng chìa ra. Một cái gật đầu gọn ghẽ dành cho đại tá, nhà thơ, nhà báo. Chỉ thế thôi. Sao mà dè xẻn nụ cười, lời chào và cái bắt tay dữ vậy các cha nội.
Vô cuộc, thoạt đầu các anh hai lúa, hai tôm cũng chỉ tiếp mồi cho bạn tôi thôi. Tuổi tuy ít hơn nhưng bạn tôi thuộc hàng trên trong dòng họ nên anh hai gốc Hà thành rất được các anh hai gốc Cà Mau kính trọng chăm sóc chu đáo. Tuy hơi chạnh lòng nhưng tôi vẫn giữ điềm tĩnh từ tốn vào cuộc vừa để thưởng thức hương vị ẩm thực đậm chất Nam Bộ vừa thử xem văn hóa nhậu của họ ra sao. Thế là, thịt ếch xào sả, thịt rắn luộc nước dừa, cá trê nướng, cua tôm tươi rói bốc khói thơm lừng tôi tự gắp, tự chén. Chà, ngon thật. Rượu nếp tự cất ngâm cây ngãi mọi. Ếch rắn đồng mình, tôm cá ao ta tươi nguyên đành đạch. Nắng ấm chan hòa. Gió sông gió rạch cũng tinh tươm tươi tắn vô ngần. Tôi thấy mình như được hòa trong không gian Cà Mau để rủ bỏ hết cái vẻ nghiêm ngắn xa cách ban đầu và hồn nhiên gần gũi thêm với bạn nhậu. Thôi nhé, quên mau đi cái vụ mắt vừa mới mổ, bao tử lâm râm, đâu dễ có được cuộc nhậu giữa lòng Cà Mau rượu ngon mồi bén hay hớm thế này. Rượu uống vòng tròn, nhất ly, tôi không thèm bỏ lượt nào, càng vô càng cởi mở chân tình. Chuyện xa, chuyện gần, chuyện thanh chuyện tục tùm lum vui vẻ. Anh Ba Tài, Tư Luân, chú Chín Lĩnh liên tục gắp mồi vào bát tôi. “Thằng em tự nhiên hen, nhậu tới đi để còn nhớ Cà Mau mà zìa”, giọng Tư Luân rủ rỉ. Đến giữa cuộc rượu thì tôi cũng được các anh hai lúa, hai tôm chăm sóc chu đáo ân cần chẳng thua gì anh hai gốc Hà Nội, bạn tôi. Tôi quên chưa kể, mâm nhậu hôm nay tại nhà Ba Tài với món chủ lực là tôm và cá trê nướng được góp thêm món ếch xào sả và rắn luộc nước dừa của mấy nhà bên. Góp mồi đãi khách cũng là một nét văn hóa hay hay mà tôi gặp giữa Cà Mau này.
Cuộc nhậu tới đỉnh khi các giọng ca cải lương vọng cổ không chuyên lên tiếng. Lê Văn Hai, phó chủ tịch Xã nhìn tôi: “Anh hai nè, em ca tặng anh bài Thương về quê mẹ của Thanh Tâm nghen”. Ai có nhớ quê hương, chắc như tôi thương về quê mẹ/ Lâu lắm rồi miền đất nhỏ xa xôi/ Nhắc chuyện ngày xưa, con còn tuổi nằm nôi/ Thương cha đã bị đày nơi hoang đảo. Sau mấy câu nói lối dắt dẫn ấy là khúc vọng cổ hoài niệm vang lên: Miền đất ấy hoang sơ đầy trời mưa bão, ngày con mới lên năm thì cha phải lãnh án mười năm nơi Côn Đảo lưu…đày. Đoạn xuống xề quá mùi của phó chủ tịch Xã được biểu dương bởi tràng vỗ tay của anh em trong mâm nhậu. Vợ Ba Tài cũng bồng cháu ra ngồi nghe mọi người chúc tụng hát xướng. Lê Văn Hai hứng khởi đứng dậy ngân nga câu lối dặm da diết: Người bạn tù của cha ngậm ngùi kể rõ/ Mộ cha bấy giờ nơi đồi nhỏ Hàng Dương/ Quá vội vàng nên bia khắc được họ Lương/ Còn hai chữ Thế Trân đành viết tắt…Chúng tôi ai cũng đều có tiết mục văn nghệ tham gia. Quá tuổi thất thập cổ lai hy, chú Lĩnh (dượng bạn tôi) cũng ca hết sáu câu vọng cổ lại hào hứng hát tiếp Bài ca Trường Sơn. Tôi, như mọi bận lại giở bài cũ đắm đuối hát Quảng Bình quê ta ơi và ngâm vè Mẹ Suốt…
Chiều rải bồng bềnh bên dòng kênh Cái Nhum yên tĩnh. Tiếng vỏ lãi xé nước rào rào thỉnh thoảng lại vang lên trên mặt kênh. Lại có những chiếc xuồng mỏng manh do các cô gái chèo lướt đi nhẹ nhàng. Tôi nổi hứng ghé tai Tư Luân: “Này, anh hai, tôi muốn được ngồi trên con xuồng ấy quá”. Tư Luân đập vào vai tôi: “Thằng em có biết lội không đó?” Tôi cười cười: “Dạ không”. Tư Luân rót cho tôi một ly rượu ngải mọi: “Không biết lội mà dám ngồi xuồng à, lơ mơ mấy cổ cho uống nước rạch đó”. Tôi không chịu thua: “Em không biết lội nhưng biết bơi anh hai ạ, vả lại con rạch này được mấy sâu”. Tư Luân cười ha hả: “Thằng em đừng thấy con rạch hẹp mà cho nó cạn nghen. Nước sâu tới mười mét đó”.
Cà Mau. Tôi đã có một lần choáng ngợp giữa mênh mang sông Cái Lớn khi ngồi xuồng cao tốc về thăm Đất Mũi, đã bâng khuâng đứng trên chòi cao giữa điệp trùng mắm đước gọi điện thoại về Lũng Cú cho em tôi là lính biên phòng. Trong gió biển lồng lộng, tiếng tôi chừng như nghẹn lại: “Em ơi, anh đang đứng nơi Đất Mũi”. Chỉ vậy thôi, mà biết mấy rộng dài bao la. Hai điểm đầu và cuối của dải đất cong cong hình chữ S. Cực Bắc và Cực Nam của Tổ quốc thân yêu. Phía Đông và Tây Nam đất nước còn mênh mang một vùng biển Việt mà khi nhắc đến lòng ta không khỏi rưng rưng xao xuyến. Và, nay lại có thêm một ấn tượng Cà Mau mới với những con người nông dân châu thổ Chín Rồng cần cù mộc mạc chân chất. Những con người nối tiếp cha ông cấy lúa, làm vườn, nuôi tôm làm cho châu thổ phương Nam ngày thêm trù phú ấm no. Những điền chủ mới có thể thu nhập bốn năm trăm triệu đồng mỗi năm từ các vuông tôm, vuông cá nhưng vẫn giữ vẹn nguyên cái chất thiệt thà chân trực của Cà Mau, sống hiền hòa với vợ con, thơm thảo phóng khoáng với bạn bè bên những con kênh con rạch. Chủ nhân của vùng đất xa Thủ đô hàng nghìn dặm vẫn mang trong mình những hồn cốt của Cà Mau. Dù nền kinh tế thị trường đã len lỏi tới mọi ngóc ngách cuộc sống thì họ, những anh hai, anh ba, anh tư… ấy vẫn là những nông dân Việt thực thụ. Trong họ vẫn đậm đà một Cà Mau thôi!
Cà Mau, tháng 12 năm 2011
05 January, 2012 10:39
Yên Dũng, đất thơm người lành
Posted by nguyenhuuquy under [ Văn xuôi ][ (0) Góp ý ] | [ (0) Trackbacks ] | [
Bản in]
YÊN DŨNG, ĐẤT THƠM NGƯỜI LÀNH
Nguyễn Hữu Quý
Huyện Yên Dũng nức tiếng lúa thơm được bao bọc bởi sông Cầu, sông Thương và Lục Nam. Trong mỗi hạt lúa của vùng quê này có hương phù sa của ba con sông nổi tiếng ấy góp vào; qua trăm năm, qua nghìn năm những lơ thơ, đục trong, dạt dào lắng đọng lại thành hoa thành trái, thành thanh thành điệu của đất, của đời. Ấy là bạn tôi, một nhà văn quê Thanh Hóa nhưng lại yêu Bắc Giang đến độ đắm đuối nói thế. Chứ tôi, dù đôi ba lần đã tới Kinh Bắc nhưng nói thật chưa về Yên Dũng bao giờ. Thế nên, khi nghe anh rủ rê lên Yên Dũng tôi gật đầu ngay tắp lự để sau những la cà lang thang trong mùa gặt ấm áp trên vùng quê nằm dưới chân núi Neo này tôi mang về Thủ đô những thảo thơm bình dị của đất và người nơi đây.
Thị trấn Neo. Một âm tiết đơn lẻ, mộc mạc quá. Neo đây là neo đậu, là giữ lại. Bạn tôi giải thích như một hướng dẫn viên du lịch. Cái tên gợi nhắc một thời xa xưa liên quan đến bến với thuyền. Thuyền ơi có nhớ bến chăng/ Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền. Những con thuyền sau bao bôn ba lênh đênh trở về neo đậu bến quê. Kiếp người cũng mong vậy, sau muôn vàn thăng trầm chìm nổi, khao khát hồi hương, neo vào nơi chôn rau cắt rốn. Neo cũng chính là tên gọi nôm của dãy núi Nham Biền đồ sộ chạy từ làng Cổ Dũng Núi, xã Cổ Dũng, tổng Cổ Dũng đến làng Bài Sanh, xã Vân Cốc tổng Hoàng Mai huyện Yên Dũng phủ Lạng Giang xứ Kinh Bắc xưa. Núi Neo còn có tên tự Cửu thập cửu phong sơn, nghĩa là núi chín mươi chín ngọn. Truyền thuyết kể : ngay từ thời hồng hoang một đàn phượng hoàng trăm con bay đi tìm đất đế đô và chúng đã chọn nơi này. Mỗi phượng hoàng chọn một ngọn núi để đậu. Rất tiếc, còn thiếu một ngọn núi cho con chim thiêng thứ một trăm nên cả đàn lại vỗ cánh bay đi. Nham Biền không trở thành kinh đô của Đất nước. Bạn tôi rành rọt kể như từng sinh ra và lớn lên ở chốn này.
Tôi nghĩ đấy cũng là cách tôn vinh về quê hương mình, dẫu không kinh đô thì non nước này vẫn xứng tầm địa linh nhân kiệt và hương lúa, hương người xưa-nay đã làm nên một Yên Dũng đất thơm, người lành, tiếng đẹp đồn xa. Yên Dũng không ồn ã phô phang, hình như thế. Tôi thích cái mộc mạc nhu mì của vùng đất này, tuy còn đó nhưng phơi trải khó khăn như con đường lộ dẫn về huyện còn lắm mấp mô ổ trâu ổ bò mà người ta đã cắm biển báo « Đường chờ lún ». Một biển báo chắc chỉ tồn tại ở Việt Nam, tôi nghĩ thế, nhưng không sao, bởi lẽ rất giản đơn là mình đang ở rất gần Thương giang đa cảm và được bao bọc bởi hương sắc mùa gặt. Thơm mùi lúa, mùi rạ. Cái mùi lành của thôn quê dân dã, ngửi vào thấy mình nhẹ nhàng ra sau những nặng nề bức xúc của cuộc sống đô thị đang ngày thêm quá tải. Thanh thoát những không gian đậm chất nông thôn Bắc Bộ nhưng vẫn xanh- sạch- đẹp bởi đường đi lối lại phong quang tươm tất. Và, không hề có sự bề bộn ngổn ngang lộn xộn dẫu đang ngày mùa. Ngăn nắp là một nét đẹp của nhiều làng xã ở Yên Dũng mà Cảnh Thụy và Tiến Dũng là những điển hình. Đường thôn bó gạch, đổ bê tông sạch sẽ, nước rãnh róc rách chảy nhưng không hề bốc mùi dơ bẩn như tôi từng thấy, từng ngửi ở những làng quê khác ven Hà Nội và ngay chính giữa lòng Thủ đô. Nghĩ tới những lúc đi ven sông Tô Lịch, sông Kim Ngưu của Hà thành mà rùng mình bởi cái mùi thum thủm bốc lên từ mặt nước đen ngòm. Tôi từng tiếc cho những ngôi làng cổ, trầm mặc ven Hà Nội bị ô nhiễm nặng bởi rác ni lon và chất thải của súc vật rải ra khắp ruộng vườn, ngõ xóm đường thôn. Người mới đến bị thứ mùi ấy ám vào quần áo, thọc luồn vào cổ đến lợm giọng. Thế mà nơi đây, Cảnh Thụy, Tiến Dũng và nhiều làng quê khác ở Yên Dũng vẫn sạch sẽ nhẹ nhàng. Phép màu nào vậy ? Trưởng thôn Bình Voi nói với chúng tôi : « Xã em, làng em có các bãi rác thải tập trung và rất nhiều nhà đã xây hầm bioga để xử lý chất bẩn của súc vật ». « Nhưng cái chính là do ý thức tự giác trong giữ vệ sinh chung của người dân, đúng không ? », tôi hỏi. Trưởng thôn Phạm Huy Nam cười nhẹ nhõm : « Vâng, cũng phải giáo dục, vận động dài dài mới thành nề nếp như thế này đó anh ạ ».
Nói phải củ cải cũng nghe. Đương nhiên là thế. Nhưng, cái quan trọng và cần thiết hơn là nói phải đi đôi với làm. Cán bộ vận động quần chúng thực hiện nếp sống mới và không ai hết chính họ phải thực sự gương mẫu làm trước. Tạo lập lòng tin cho dân không chỉ bằng lời nói mà phải bằng hành động cụ thể.
Các tổ chức quần chúng xắn tay hăng hái vào cuộc xây dựng văn hóa nông thôn mới. Từ Hội Cựu chiến binh, Hội Người cao tuổi, Hội Quân nhân đến Đoàn Thanh niên, Hội phụ nữ, Hội Nông dân ; từ làng xã thôn xóm đến trường học chung tay góp sức thực hiện 19 tiêu chí xây dựng nông thôn mới trong đó văn hóa là một nội dung vô cùng quan trọng. Đó chính là nền tảng của đời sống tinh thần, là động lực thúc đẩy nông thôn phát triển đi lên trên đôi cánh của tiên tiến và truyền thống. Văn hóa là cái tồn lưu lâu bền nhất trong con người, kể cả tinh hoa lẫn thói xấu nên cuộc vận động này cũng đòi hỏi sự kiên nhẫn bình tĩnh.
Cưới hỏi, tang lễ, hội hè là những hoạt động muôn năm cũ của làng quê. Trước đây, không ít gia đình phải méo mặt khi lo chuyện dựng vợ gả chồng cho con cái, bao nỗi lo đè nặng lên vai khi ông bà cha mẹ xuôi tay nhắm mắt. Cỗ bàn, lễ vật trở thành cái cân đong đo đếm sự sang hèn, cao thấp của các gia đình, dòng họ. Vì thế, mà không ít nhà cố gồng lên lo liệu theo kiểu gà tức nhau tiếng gáy, rốt cục khánh kiệt sa sút kinh tế trở thành nguy cơ nhỡn nhãn. Nay, mừng thay Yên Dũng đã đổi mới rồi. Bắt đầu đổi mới từ cái chuyện quan trọng nhất của một đời người là việc hỉ, việc hiếu. Một tiệc cưới do Đoàn Thanh niên chủ trì, không rượu bia, không món mặn, không hút thuốc, hát hò là chính đáng khen lắm chứ. Tuy nhiên, với gia đình thì chưa thể bỏ chuyện mâm bát được nhưng chỉ làm rút gọn lại độ ba bốn chục mâm sáu là vừa. Cũng có nâng lên hạ xuống chút đỉnh nhưng không say sưa quá độ, không cãi cọ, xô xát. Việc tang do tổ chức Mặt trận và Hội Người cao tuổi kết hợp với Ban Lễ tang thôn chủ trì. Trang nghiêm. Tình cảm. Giản dị. Không ăn uống nhiều. Trước đây, tôi nghe người ta kể rằng ở Yên Dũng mỗi đám tang thường có trăm mâm cho bà con xa gần đến chia buồn. Lễ hội cũng vậy, phải hướng đến cốt lõi tâm linh, tâm tưởng lành mạnh với nguồn cội cha ông chứ không phải là dịp kinh doanh làm giàu vô tội vạ. Có những nội dung thì đơn giản hóa, lược bỏ bớt cho cuộc sống nhẹ nhàng hơn nhưng có những hoạt động thì ngày phải nhân lên hơn nữa. Nhà văn hóa đa năng. Đội văn nghệ. Câu lạc bộ nghệ thuật. Thư viện, tủ sách của thôn. Lớp dạy ca quan họ. Những cái ấy phải được nhân lên, phải trở thành thân quen với người nông dân. Xã Cảnh Thụy có đội văn nghệ biểu diễn 4 buổi một năm cho bà con xem, có lớp học quan họ gồm 46 thành viên độ tuổi từ 15 đến 35, có phòng đọc sách báo rộng 200 mét vuông ; Xã Tiến Dũng có 4/9 làng đã xây Nhà văn hóa đa chức năng, nhiều thôn có câu lạc bộ cầu lông, câu lạc bộ nghệ thuật, quỹ khuyến học dòng họ...Có thôn văn hóa như Tân Tiến (Tiến Dũng) gần mười năm nay không có cặp vợ chồng nào sinh con thứ ba và chưa hề xảy ra vụ ly hôn nào. Năm nay, có 66/74 hộ đạt gia đình văn hóa. Gia đình cãi cọ nhau nhất định bị trượt văn hóa. Tân Tiến có hai gia đình vì cãi nhau nên không được công nhận, trong đó có một cặp vợ chồng cao tuổi. Nghe đâu cụ ông tuổi 65 và cụ bà tuổi dấp dính 60 cãi nhau vì chuyện ấy ấy...Chẳng biết thực hư thế nào nhưng theo lời cô bạn của tôi làm phong trào kế hoạch hóa gia đình kể lại thì nhiều cụ ông tuy tuổi đã cao nhưng vẫn còn muốn chuyện ấy trong khi cụ bà chẳng thiết nữa nên thi thoảng vẫn xảy ra sự ca cẩm cãi cọ này kia.
Bức tranh văn hóa của Yên Dũng khá sáng sủa. Theo báo cáo của Ủy ban nhân dân Huyện thì năm 2011 Yên Dũng có 161/201 làng văn hóa (chiếm 80,09%) trong đó có 50 làng đề nghị công nhận cấp tỉnh ; 34.892 hộ đạt gia đình văn hóa (chiếm 85,1%) ; 155/160 cơ quan văn hóa (96,8%) trong đó có 61 cơ quan đề nghị công nhận cấp tỉnh. Một huyện thuần nông mà có tới 186/201 thôn có Nhà văn hóa (đạt 92%) , 48/78 làng văn hóa cấp tỉnh có tủ sách thư viện thật đáng ghi nhận. Trong khi đây đó người ta gióng lên hồi chuông cảnh báo về sự xuống cấp của văn hóa đọc thì ở nhiều vùng quê Yên Dũng bà con ta vẫn thích đến thư viện thôn xem sách báo. Văn nghệ dân gian cũng được chú ý bảo tồn, theo phó chủ tịch Huyện Trần Văn Dũng thì Yên Dũng đã khôi phục được 8 làng chèo ở Tân Mỹ, Đồng Quan thuộc xã Đồng Sơn ; Tân Ninh, Phú Mại thuộc xã Tư Mại ; Minh Đạo thuộc xã Tân An ; Đồng Nhân thuộc xã Đồng Phúc ; Câu lạc bộ chèo của Huyện và 4 Câu lạc bộ hát quan họ đã ra đời ở Cảnh Thụy, Đồng Việt, thị trấn Neo...
Chúng tôi đã đến chốn Tổ-chùa Vĩnh Nghiêm của Thiền phái Trúc Lâm do vị hiền minh Trần Nhân Tông sáng lập từ thế kỷ 13. Đây chính là một Đại danh lam cổ tự nổi tiếng trong cả nước. Ngôi chùa có hơn bảy trăm năm nay với những đường nét kiến trúc khiêm cung mềm mại từ ngoài vào trong thể hiện đậm đà và sâu kín sự hài hòa giữa hồn Việt và tính Phật nằm yên bình giữa cỏ cây hoa lá xanh tươi. Thời Trần, Vĩnh Nghiêm là một trung tâm Phật giáo lớn của Đại Việt, nơi ba vị Trúc Lâm Tam tổ Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang từng trụ trì và mở trường thuyết pháp. Có thể xem đây là Trường Đại học Phật giáo đầu tiên ở nước ta. Những bản mộc bằng gỗ thị khắc Kinh Phật lưu trữ tại đây là tài sản vô cùng quý giá của quốc gia. Tất cả đã được gìn giữ truyền thừa qua nhiều thế hệ, Bảy thế kỷ như còn lưu dấu nơi đây, trên nền đất linh thiêng, trong tàng cây cùng tuổi với ngôi chùa vẫn xanh màu lá, trong những hoa văn tạc khắc trên rường cột, trong câu Thánh hiền Thiên kim di tử, bất như nhất kinh (Cho con ngàn vàng không bằng một quyển sách) dạy con cháu bao đời. Hơn bảy thế kỷ rồi nhưng ánh sáng tính túy của Trúc Lâm Thiền phái vẫn lan tỏa. Việc khôi phục dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử do vua Trần Nhân Tông khai mở đang là nhu cầu tình cảm của nhân dân. Dự án Thiền viện Phượng Hoàng đã phác thảo ra một danh thắng mới nhằm phát triển du lịch sinh thái gắn với văn hóa tâm linh ở trên dãy núi Nham Biền thuộc địa phận xã Nham Sơn của Yên Dũng.
Có một nhà phong thủy khi lên núi Phượng Hoàng (thuộc dãy Nham Biền) đã sững sốt trước địa thế nơi này. Theo ông ta thì đây mới thực là một linh địa để kiến tạo nên Thiền viện. Vùng đất này vô cùng đắc địa vì được Nhâm sơn-Bính hướng, Tổ sơn cao dày. Thiền viện Phượng Hoàng sẽ được xây dựng ở đây và trên đỉnh Đền Vua còn nên dựng Tam tổ Trúc Lâm nữa để tạo phúc cao dày cho con cháu mai sau.
Theo dự án, Thiền viện Phượng Hoàng là một Thiền viện tu theo Thiền phái Trúc Lâm với tinh thần : Thiền giáo song hành ; Tam giáo đồng nguyên ; Tức tâm tức Phật ; Nhập thế ; Dân tộc ; Độc lập tự cường và Hướng đến cuộc sống an lạc giải thoát. Những tinh thần ấy đã được khai mở từ hơn bảy trăm năm trước bởi Phật Hoàng Trần Nhân Tông nay sẽ được nghiên cứu, bảo tồn lưu giữ và vận dụng vào đời sống đương đại vốn đang rất xô bồ hỗn tạp đầy ứ dục vọng của con người.
Thiền viện Phượng Hoàng sẽ trở thành một nét nhấn trang nghiêm thanh thoát cao đẹp cho vùng quê Yên Dũng đất thơm người lành nói riêng và cho Bắc Giang nói chung. Có phải, đó chính là điều tốt, điềm lành đang đến với Yên Dũng, Bắc Giang ?
Cuối năm 2011
03 January, 2012 17:56
Hò quê tôi cũng hỏi xoáy đáp xoay
Posted by nguyenhuuquy under [ Văn xuôi ][ (0) Góp ý ] | [ (0) Trackbacks ] | [
Bản in]
HÒ QUÊ TÔI CŨNG HỎI XOÁY ĐÁP XOAY
Nguyễn Hữu Quý
Có vẻ như chuyên mục Hỏi xoáy đáp xoay trên VTV3 tối thứ bảy hàng tuần được nhiều người thích thú. Chả nói đâu xa, vợ và con gái tôi cứ đến đêm ấy là cứ ngong ngóng chờ tiến sỹ Xoáy và giáo sư Xoay xuất hiện. Thỉnh thoảng tôi cũng để mắt tới các vị. Phải nói rằng những câu hỏi ỡm ờ lấp lửng của tiến sỹ Xoáy (Xuân Bắc) và cách trả lời ngồ ngộ tưng tửng của giáo sư Cù Trọng Xoay (Đinh Tiến Dũng) cũng góp phần làm cho người ta xả bớt những căng thẳng trong người. Có người chê chương trình “nông” nhưng có kẻ lại “ô dào, trò giải trí, vui là chính, cần gì trí tuệ sâu sắc đâu”. Tôi không lạm bàn về việc này chỉ muốn nói rằng ở quê tôi, từ lâu, rất lâu rồi trong các câu hò đối đáp trai gái đã hỏi xoáy đáp xoay rồi.
Bên dòng chảy 350 triệu năm của sông Gianh trữ tình, vào những đêm trăng hay dịp lễ tết gái trai thường tụ họp hò hát đối đáp với nhau. Có những câu ca mang tình yêu núi sông ruộng đồng man mác gắn với lòng thương cha nhớ mẹ diết da: Về Đá Nhảy lao xao sóng bể/ Nỗi buồn theo Vụng Hóp, Khe Giang/ Từ Đồng Miếu sang Cha Màn/ Lên Đá Bụt tới Mạ Ca năn nỉ/ Trời nam biển bắc bao nỗi nhớ thương/ Ơn cha nghĩa mẹ lỗi đạo đường báo đáp…Nhưng, với tôi, ấn tượng hơn cả vẫn là những câu hò đối đáp tinh nghịch vui vẻ song không kém phần sâu sắc của trai gái làng mình. Độ xoáy của người hỏi và chất xoay của kẻ đáp xem ra cũng rất đáng nể.
Người con gái tủm tỉm cười cất tiếng: - Ơ…hò…Ba ba nấu cháo ba ba, tam tam như cửu, hỏi anh đà chín chưa? Độ xoáy nằm ở cách chơi chữ khá khôn khéo, sử dụng từ đồng âm nhưng khác nghĩa, từ nhiều nghĩa, từ Hán – Việt kết hợp với nhau… Ba ba là con ba ba (một loài vật thuộc họ rùa – đặc sản biển, có nhiều chất dinh dưỡng tạo ra sự cường tráng dẻo dai cho đàn ông) nhưng ba ba cũng là con số (33) hay có thể là phép tính nhân (3x3=9 nói tắt 3.3là 9). Tam tam như cửu (từ Hán) có nghĩa ba ba là chín. Từ chín (cửu) xuất hiện ở vế cuối câu hò không chỉ con số mà mang hai nghĩa khác nhau trong đó nghĩa đen là cháo chín chưa và nghĩa bóng là em muốn hỏi anh đã chín chắn chưa? Ui chao, cũng thâm sâu và đáo để lắm lắm mấy cô, mấy ả làng tôi.
Ánh mắt chàng trai lướt nhẹ trên cặp má bồ quân của đối tác, cất giọng trả lời: - Cầu hai nước chảy phân hai, nhị nhị như tứ, xin em chớ theo ai bốn lần. Ghê! Và, nói theo ngôn ngữ hiện đại của lớp trẻ bây giờ là Chuẩn không cần chỉnh! Câu hò đáp thật xoay. Cũng chơi chữ chẳng kém gì các em và ác hơn là ở lối nói thanh mà tục đến tức cười. Nếu nói lái theo kiểu miền Bắc thì bốn lần thành lấn bồn, chẳng có nghĩa gì nhưng lái theo kiểu miền Trung thì bốn lần sẽ thành…Xin lỗi các bạn nhé, bốn lần sẽ thành bấn l…Bấn cũng có nghĩa là vật bị tác động nhiều quá nên thành bấy, thành nát…
Cô gái lại hò lên:- Con rắn không chân, rắn nhờ chi rắn đi mười ngọn rú, con gà không có bụ gà nhờ chi nuôi đủ mười con? Trai nam nhi đối được gái gá nghĩa nước non suôt đời. Ở đây có mấy phương ngữ, tôi xin dịch ra phổ thông: chi là gì, rú là núi và bụ là vú.
Chàng trai Linh Giang không hề nao núng cất tiếng hò trong phơi phới gió bay:- Con rắn không chân có cái thân dài uốn oánh, con gà không bụ nhờ đôi cánh ấp con. Trai nam nhi đã đối đặng, gái đã gá nghĩa nước non hay còn chờ?
Sau tiếng hò rất xoay của người đáp, đám con trai cười nghiêng ngả còn mấy cô gái mười tám đôi mươi túm tụm vào nhau đấm lưng thùm thụp. Vui thế, nghịch ngợm thế nhưng cánh con trai không ai mắc bệnh chân tay miệng cả (ý nói sờ soạng sàm sỡ lung tung). Bởi họ đã ân cần dặn dò nhau: Làm trai anh ơi phải giữ mưu giữ kế/ Làm gái em đây cũng biết giữ thế giữ thần/ Thương nhau để bụng…chớ ngồi gần thiên hạ ngại nghi…
Có khi hò đối đáp là dịp để trai thanh gái lịch kiểm tra hiểu biết của nhau. Người con gái hỏi: Nào ai bị rớt xuống sông? Nào ai thất lạc vườn hồng năm canh? Nào ai phá ngục khai thành? Nào ai bị trói năm canh tan tùng? Nào ai giữ trọn hiếu trung? Trai nam nhi đáp được gái nữ hồng kết duyên. Nếu không đọc Lục Vân Tiên thì chắc chàng trai khó đáp được thế này: Vân Tiên bị rớt dưới sông/ Nguyệt Nga thất lạc vườn hồng năm canh/ Án Binh phá ngục khai thành/ Tiểu Đồng bị trói năm canh bão bùng/ Tử Trực giữ trọn hiếu trung/ Trai nam nhi đây đối được gái nữ hồng tính sao?
Bão giông, hạn hán, chiến tranh không lấp vùi được niềm vui sống của con người nơi miền đất khắc bạc này. Sau những vất vả gian truân con gái con trai quê tôi vẫn cất câu hò đối đáp mộng mơ mê đắm hay tinh quái ghẹo trêu nhau. Anh về ở với em, em may cho anh một năm ba quần ba áo, em sắm cho anh một nón dấu một mẩu tơi mo, ngày anh ra đồng cuốc ruộng, ăn ở thật thà em thương. Người con gái lại cất lên tiếng hò trong trẻo. Chàng trai sẽ trả lời sao đây trước bày tỏ có thể nói là rất chủ động của người đẹp đang đứng trước mặt mình. Im lặng chăng? Lúc này im lặng không phải là vàng, thế là chàng trai buông ra một câu hò rất độc. Độc ở chỗ anh ta bê gần như nguyên xi lời cô gái hò chỉ cần, vâng, chỉ cần biên tập tý chút ở phần cuối. Anh ở với em, em sắm cho anh một năm ba quần ba áo, em sắm cho anh một nón dấu, một mẩu tơi mo, ngày anh ra đồng cuốc ruộng, tối em cho ngủ nhờ mới vâng!
Đến lượt tôi, khi nghe câu đáp siêu xoay của chàng trai Linh Giang liền bật lên lời tâm phục: Ui chao! Ngủ nhờ là ngủ kiểu răng/ Phải đâu đánh đáo, đánh khăng, đánh cù…
Sông Gianh, Quảng Bình
31 December, 2011 13:38
Lăng kính của Tui: Đời sống văn học Việt Nam 2011, mấy cảm nhận
Posted by nguyenhuuquy under [ Bên dòng thi ca ][ (1) Góp ý ] | [ (0) Trackbacks ] | [
Bản in]
ĐỜi SỐNG VĂN HỌC VIỆT NAM 2011,
MẤY CẢM NHẬN
Nguyễn Hữu Quý
Theo nhìn nhận của tôi, năm 2011, văn học Việt Nam vẫn là một dòng chảy lững lờ, khá bình lặng. Trên thị trường sách vắng bóng những tác phẩm làm dậy sóng dư luận một thời chưa xa mấy như Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh hay Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư. Cũng là chuyện bình thường thôi, bởi những thành tựu văn chương xưa nay bao giờ cũng hiếm và không phải lúc nào giữa muôn vàn trang viết bằng bặn cũng vụt lên những tác phẩm xuất sắc, những đỉnh cao sáng tạo làm cho ta ngây ngất, choáng ngợp. Tuy thiếu những điểm nhấn ấn tượng nhưng theo tôi, đời sống văn học nước nhà trong năm qua cũng không rơi vào tình cảnh bế tắc, tù đọng, ảm đảm quá khiến chúng ta phải bi quan, chán chường.
Có lẽ, chúng ta còn nhớ sự ồn ào của dư luận xoay quanh cuốn tiểu thuyết lịch sử Hội thề của Nguyễn Quang Thân. Hội thề được trao giải A cuộc thi tiểu thuyết 2006 - 2010 của Hội Nhà văn Việt Nam. Hội thề được đưa ra “mổ xẻ” bởi vấn đề lịch sử là chính chứ không phải về chất lượng nghệ thuật. Cuộc tranh cãi bất phân thắng bại, gây ồn ào khá lâu từ đầu đến giữa năm nay và nghe đâu những người có trách nhiệm của Hội Nhà văn Việt Nam định giải trình trên báo Văn nghệ nhưng sau vì lý do tế nhị nào đấy nên thôi.
Na ná như thế, tập truyện ngắn Dị hương của Sương Nguyệt Minh sau khi được trao giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam năm 2010 cũng được dư luận tranh cãi về vấn đề lịch sử. Cũng khá ồn ào do những cách nhìn nhận nhân vật Nguyễn Ánh – Gia Long (truyện ngắn Dị hương) trái chiều nhau và nói chung người ta cũng không quan tâm mấy đến chất lượng nghệ thuật tác phẩm. Sau đó, tất cả lại rơi vào im lặng bởi sự lãng quên chóng vánh của mọi người.
Tôi nhớ lại Nỗi buồn chiến tranh và Cánh đồng bất tận. Hai tác phẩm văn học này lúc mới ra đời cũng làm nóng dư luận bằng những cuộc tranh luận sôi nổi theo các chiều trái ngược nhau nhưng sau đó thì đông đảo bạn viết, bạn đọc phải thừa nhận rằng đó là hai tác phẩm hay của văn học Việt Nam sau 1975. Liệu Hội thề và Dị hương có được hạnh phúc lớn lao như thế?
Có nên ghi điểm cho Hội Nhà văn Việt Nam trong việc tổ chức các cuộc hội thảo tọa đàm về một số tác phẩm, tác giả? Tôi thấy là nên ghi nhận sự cố gắng của Hội tuy rằng đó đây vẫn nổi lên sự eo xèo về các cuộc hội thoại, tọa đàm này. Chúng ta có thể kể tới cuộc hội thảo về Thơ miền Trung, thơ Đồng Đức Bốn-Mai Văn Phấn, thơ Hoàng Tá-Lâm Quý…, về tiểu thuyết Vùng lõm của Nguyễn Quang Hà, Chân trời mùa hạ của Hữu Phương, Quyên của Nguyễn Văn Thọ, Thần thánh và bươm bướm của Đỗ Minh Tuấn…Các cuộc hội thảo tọa đàm văn học kiểu này tuy có tốn kém chút đỉnh nhưng tôi thấy cần thiết, bổ ích cho tác giả và bạn viết, bạn đọc. Chỉ hơi chạnh lòng là có cuộc mang tiếng hội thảo tạo đàm tiểu thuyết mà chỉ lèo tèo mấy người tham dự và hình như người ta ca tụng là chính chứ không mấy người chê.
Hội nghị Nhà văn trẻ cũng có thể được xem là một sự kiện của đời sống văn học trong năm qua. 112 gương mặt người viết trẻ tề tựu tập hợp về Tuyên Quang để tham gia Hội nghị, trong đó ít tuổi nhất là Phạm Nguyễn Ca Dao mới 17 tuổi. Bằng tuổi Chế Lan Viên khi viết Điêu tàn, một tập thơ được coi như ánh sao băng kinh dị lóe lên trên bầu trời văn học Việt Nam thời đó. Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, ông Hữu Thỉnh khẳng định: Mục đích trước hết của Hội nghị Nhà văn trẻ là vì lớp trẻ và thông báo: Hội nghị đã thành công bởi ba mục đích ban đầu đặt ra: tập hợp nhận diện người viết trẻ; tổ chức một diễn đàn đầm ấm để định hướng sáng tác cho họ; khảo sát chất lượng và lắng nghe nguyện vọng sáng tác của người trong cuộc. Nhưng, lại có những người khác không nhìn nhận Hội nghị Nhà văn trẻ bằng màu hồng như thế. Người ta nghi ngờ về tính đại diện, tiêu biểu cho lực lượng những người viết trẻ của 112 thành viên được lựa chọn về dự Hội nghị. Mới có chuyện lùm xùm ai đi, ai ở tại thành phố Hồ Chí Minh trước Hội nghị. Đến nỗi, có bài báo kêu lên Hội nghị Nhà văn trẻ hay bữa cơm tập thể để một số kẻ chia phần cho thân hữu?
Những người viết văn trẻ mang áo lính cũng có một cuộc hội tụ nghiêm ngắn, tưng bừng tại Ngôi nhà số 4 - Tạp chí Văn nghệ quân đội trước thềm Hội nghị Nhà văn trẻ tổ chức ở Tuyên Quang nơi từng được coi là Thủ đô gió ngàn. Đây là cuộc biểu dương lực lượng những cây bút trẻ Quân đội hiện nay. Nhiều ý kiến tham luận nhiệt tình, thẳng thắn được phát biểu. Một sự báo động nhẹ nhàng về việc phai màu áo lính của các nhà văn trẻ trong quân đội. Không gì khác cả, ngoài việc hướng tới tăng số lượng, chất lượng tác phẩm viết về người lính hôm qua và hôm nay.
Thơ, hình như vẫn âm thầm lặng lẽ chuyển động trong sự bộn bề, xô bồ và ào ạt của cuộc sống. Bất chấp thời bão giá, hàng trăm tập thơ tự in của nhiều cây bút chuyên nghiệp và nghiệp dư vẫn tưng tẩy hay rụt rè chào đời. Thơ in trên báo vẫn tằng tằng tằng tằng như thế mà có vẻ như không nhiều lắm các thi phẩm làm rung động người đọc. Khó tìm được một tập thơ trỗi bật để tâm phục khẩu phục. Có kẻ cố làm mới thơ nhưng xem ra đó cũng chỉ là thứ bong bóng màu mè nhẹ hẫng. Thơ càng rời xa cuộc sống, công chúng càng quay lưng lại với thơ.
Cuộc thi thơ lục bát do Tạp chí Văn nghệ quân đội và Tạp chí Sông Hương tổ chức đã sắp về đích. Thi lục bát lúc này đúng là thử thách quá lớn đối với Văn nghệ quân đội và Sông Hương. Chưa công bố kết quả nhưng nghe đâu khó tìm được giải Nhất. Thôi, đành lòng vậy, cầm lòng vậy, không có hoa hồng thì có hoa cúc và thậm chí chỉ có sim mua, xuyến chi cũng đẹp chứ sao. Miễn là mặt bằng của cuộc thi không làm ta thất vọng là được rồi.
Lại có một cuộc thi thơ đặc biệt. Đặc biệt bởi nó không phải do một tờ báo văn nghệ chủ trì. Đặc biệt bởi nó có thời gian không dài. Đặc biệt bởi nó quy định mỗi tác giả chỉ gửi tối đa 2 bài thôi; ai vượt quá sẽ phạm quy. Đặc biệt bởi nó hướng đến đề tài đang nóng là biển đảo Việt Nam. Một cuộc thi thơ được khởi xướng trong những ngày Biển Đông dậy sóng nên đã dành được sự đồng cảm rất lớn, rất sâu của những người cầm bút chuyên nghiệp và nghiệp dư. Đặc biệt bởi cơ cấu giải của nó rất ít. Đó là cuộc thi thơ (cả nhạc) Đây biển Việt Nam của VietNamnet. Thế mà cuộc thi đã thu hút rất nhiều người tham gia. Hàng nghìn bài thơ đã gửi về tòa soạn. Cuộc thi đã chấm dứt thời hạn nhận bài và các nhà thơ giám khảo đang đọc để lựa chọn tác phẩm xuất sắc trao giải. Nghe đâu, 50 bài thơ khá nhất sẽ được tập hợp thành thi phẩm Đây biển Việt Nam. Biết đâu, đây sẽ là tập thơ giàu chất đời sống, nồng nàn lòng yêu nước và biết đâu nó sẽ là một điểm nhấn đẹp trong đời sống văn học trước khi chúng ta bước sang năm 2012, năm cầm tinh con Rồng.
Đồng Xa, cuối tháng 12.2011
25 December, 2011 08:24
Bốn mùa nỗi nhớ tươi nguyên
Posted by nguyenhuuquy under [ Văn xuôi ][ (2) Góp ý ] | [ (0) Trackbacks ] | [
Bản in]
BỐN MÙA NỖI NHỚ TƯƠI NGUYÊN
Tùy bút của Nguyễn Hữu Quý
Muôn đời nay, cõi bờ cương vực vẫn là giá trị thiêng liêng nhất của Đất nước. Với Tổ quốc ta, một dải non sông cong cong hình chữ S trải dài từ chóp nón Lũng Cú đến ngón chân cái chưa khô bùn vạn dặm Cà Mau ôm lấy một vùng biển đảo mênh mang luôn là nơi đứng đầu sóng ngọn gió. Các thế lực ngoại bang tham lam đã bao phen hùng hổ đặt gót giày xâm lược lên vùng biển, dải đất linh thiêng này nhưng rốt cuộc đều bị dân tộc ta đánh bại. Bởi thế, mới có ngân rung Trống đồng thời Hùng Vương, âm vang Nam quốc sơn hà Nam đế cư của Lý Thường Kiệt, hào sảng Đại cáo bình Ngô của Nguyễn Trãi, trầm hùng Tuyên ngôn Độc lập của Hồ Chí Minh…Đấy là những bằng chứng lịch sử hùng hồn tỏa sáng trong suốt thăm thẳm chiều dài dựng nước và giữ nước đầm đìa máu – mồ hôi – nước mắt của bao thế hệ con dân Việt.
Với tôi, tình yêu được đẩy tới đỉnh cao nhất, đạt đến chiều sâu nhất hình như chỉ có khi đặt chân lên biên giới hải đảo. Một tình cảm tha thiết lưu truyền từ ngàn xưa lại, nguyên vẹn và tinh khôi như thuở ban đầu. Và, trong muôn vàn biến thiên của thời cuộc, giữa những chen lấn hỗn tạp của thế giới hôm nay thì tình yêu Tổ quốc, bắt đầu từ lòng yêu biên cương hải đảo càng cô đúc lại rỡ ràng, rắn rỏi, góc cạnh hơn. Một tình yêu rất cụ thể trong tôi; từ ngọn cỏ cành cây, góc núi bờ ruộng, thềm đá hạt cát, con sóng dải mây đều thắm thiết lung linh hồnViệt. Để trong tôi chưa bao giờ nguôi quên, chưa bao giờ lặng tiếng, chưa bao giờ mờ phai những địa danh biên giới như Lũng Cú, Tả Kha, Bạch Đích, Làng Mô, Cù Bai, Cổng Trời, Tà Rùng, Lao Bảo, Đất Mũi Cà Mau…và những đảo nổi, đảo chìm như Trường Sa lớn, Đá Đông, Đá Tây, Đá Lát, Thuyền Chài, Phan Vinh, Tiên Nữ, An Bang…nơi mình đã đặt chân đến. Một lần đến để nhớ thương mang theo đăm đắm trọn đời. Để còn lại trong tôi những thao thức cheo leo, lồng lộng biên cương hải đảo không dễ gì nói hết.
Vẫn còn trong tôi nỗi nhớ mù sương Cực Bắc thấp thoáng bóng cây sa mộc chênh chênh trong gió rét. Những bờ lau trắng giao tranh với gió bấc, mềm mại mà dẻo dai muôn thuở, muôn đời. Tôi nhớ lặng im đến rơi nước mắt khi ngắm nhìn những nụ hoa đào nở sớm trước sân đồn Bạch Đích, cheo leo lưng chừng ngọn núi Muồng sương phủ tê tê. Những bông hoa đào khoe sắc khiêm nhường giữa Tết trung thu khi những người lính biên phòng nao nao nhớ tiếng trống tùng dinh nơi chốn quê xa. Quanh năm suốt tháng xa nhà, xa cha mẹ, vợ con để trụ bám nơi heo hút biên thùy. Dấu chân tuần tra nhòe trong sương gió nắng mưa và lắm khi nó bị khuất lấp sau muôn vàn hỗn tạp bon chen bề bộn của cuộc sống đời thường. Vẫn cười như nứa vỡ. Vẫn nén lòng thương nhớ nôn nao để gọi điện về động viên vợ con nơi xa. Vẫn là cán bộ của dân bản. Vẫn là kỹ thuật viên hướng dẫn bà con cấy lúa trồng xoài. Vẫn là thầy giáo quân hàm xanh dạy các em học đọc, học viết…Những người lính biên phòng như thế, chỉ một lần gặp thôi cũng đã để cho ta yêu mến trân trọng. Họ, chính là một phần của biên giới, hòa trong dân, lẫn trong dân, sống cuộc sống của từng cột mốc chủ quyền Đất nước.
Cũng vậy, tôi vẫn thường nhớ về đảo xa nơi màu áo lính thấp thoáng bên cây phong ba, dưới những cây dừa tướp lá. Cột mốc chủ quyền trên đảo là một thực thể linh thiêng gắn liền với người lính biển đảo. Dù họ mang quân phục khác nhau nhưng tinh thần khí phách của những người lính ấy vẫn là khí phách tinh thần của người giữ bờ cõi. Mỗi người lính là một cột mốc thiêng, là một cây phong ba và cũng có thể là một mảnh trăng quê trên đảo. Xa đất liền hàng trăm hải lý, cũng nôn nao nỗi nhớ quê hương gia đình, cũng bâng khuâng khi ngắm những vầng mây đỏ rực phía Tây khi hoàng hôn buông. Ai chẳng muốn có bữa cơm quây quần bên người thân cơ chứ và được đi bên người yêu trong đêm thứ bảy chẳng phải là niềm mong ước của riêng ai? Rồi, khi Tết đến Xuân về, chiều ba mươi, phút giao thừa ai chẳng thấy lòng mình chênh chênh trông trống. Tôi nhớ phút hân hoan trìu mến của lính đảo dành cho người đất liền. Bông hoa muống trắng muốt tặng các cô văn công hát múa trên đảo giữa trưa nắng chang chang. Những chàng trai tuổi mới mười tám mười chín mà đầu đã lấm tấm bạc - những người lính mặt trẻ tóc già của tôi. Cái đêm trăng rằm vằng vặc sáng giữa biển trời bao la, lính đảo với văn công hát cùng nhau mê say như chưa bao giờ được hát. Không phải liền chị liền anh của xứ Kinh Bắc huê tình vẫn cứ níu náu dùng dằng muôn nỗi. Đến canh khuya rồi, mà vẫn chưa dám cất lời Người ở...đừng về…
Văn hóa Việt theo con người Việt đến biên cương hải đảo. Đó cũng là những cột mốc vô hình xác lập chủ quyền Đất nước. Nó vô hình nhưng vô cùng vững chãi. Ngôn ngữ Việt. Dân ca Việt. Ứng xử Việt. Đình chùa Việt. Hiện hiển trên đảo xa, trên biên cương như là sự nối dài, sự khẳng định cho tinh thần Nam quốc sơn hà Nam đế cư…Không có gì là lên gân lên cốt cả; tinh thần ấy có trong mỗi người dân Việt, mỗi người lính Việt rất tự nhiên bởi nó được truyền lưu lại từ hàng nghìn năm nay. Tinh thần ấy được hun đúc từ lòng yêu nước vững bền, nối dài bền chặt từ Tổ tiên ông bà đến con cháu chút chít mai sau.
Biên cương hải đảo đã là một phần cuộc sống của tôi. Bốn mùa, nỗi nhớ ấy đằm thắm tươi nguyên trong tôi. Tôi mang nỗi nhớ ấy như mang một phần Tổ quốc trong tim.
Quần đảo Hoàng Sa, một phần máu thịt của Tổ quốc đang bị nước ngoài chiếm đóng.
Ảnh sưu tầm trên NET
24 December, 2011 08:25
Giáng sinh 2011
Posted by nguyenhuuquy under [ Bên dòng thi ca ][ (0) Góp ý ] | [ (0) Trackbacks ] | [
Bản in]
21 December, 2011 19:46
Cái thuở binh nhì
Posted by nguyenhuuquy under [ Thơ - Trường ca ][ (0) Góp ý ] | [ (0) Trackbacks ] | [
Bản in]
Nguyễn Hữu Quý
CÁI THUỞ BINH NHÌ
Nhớ tôi, cái thuở binh nhì
lính trơn, chẳng có thứ gì cho em
tặng nàng một cặp thư tem
có hình chiến sỹ trên nền cờ tươi
cộng thêm vỏ đạn, một đôi
hình như chỉ có vậy thôi, binh nhì!
Chiến trường giục giã, ra đi
tôi thành lính trận ở thì măng tơ
lăn lốc sinh tử đôi bờ
mảnh trăng khuya hóa tấm đò trần gian
chẳng mơ tướng tá xênh xang
chỉ mong còn sống về làng cưới em…
Tôi về làng đúng mùa sen
người năm xưa đã về bên…nhà chồng
à ơ…con bế, con bồng
thương sao dằng dặc người trông binh nhì!
Đau
mà chẳng dám trách chi
trai trận mạc, gái có thì, chiến tranh…
Chuyện xưa kể với hoa chanh
vẫn thơm trong gió hương lành thời xa
đã là ông, đã là bà
nghe sương lành lạnh bay qua tóc mình
nhớ thời thôn nữ xinh xinh
ngồi bên chàng lính rung rinh binh nhì!
21.12.2011



















